This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Sáu, 11 tháng 1, 2013

Đường đến Dinh Độc Lập

Đường đến Dinh Độc Lập
Nhấn thanks để ủng hộ Blog
Lần đầu tiên trong lịch sử, đặc công – lực lượng đặc biệt tinh nhuệ của quân đội nhân dân Việt Nam – được huy động tham gia đông đảo nhất vào Chiến dịch Hồ Chí Minh, mở đường cho đại quân giải phóng Sài Gòn.
Bất ngờ ba mũi giáp công
Ngày 1-4-1975, tôi nhận quyết định của Bộ chỉ huy Miền (R) giao nhiệm vụ Chỉ huy trưởng cánh Đông của lực lượng đặc công miền. Nhiệm vụ: bằng mọi giá phải chiếm giữ được 14 cầu và 6 căn cứ lớn của địch án ngữ cửa ngõ Sài Gòn, Vũng Tàu; đánh phá sân bay Tân Sơn Nhất, một số mục tiêu nội đô… để các binh đoàn chủ lực tiến vào Sài Gòn.
Đọc thêm »

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN (Chương 4)

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN (Chương 4)
(Văn Tiến Dũng)

Đường Ra Trận
Nhấn thanks để ủng hộ Blog

Chúng tôi vào Mặt trận Tây Nguyên, mang bí danh: “Đoàn A.75″.
Theo quy định, khi giao dịch, thông tin liên lạc và thảo luận với nhau trong chiến dịch này, đồng chí Võ Nguyên Giáp mang bí danh Chiến, còn tôi mang bí danh Tuấn.
Năm nào cũng vậy, cứ vào những ngày giáp Tết, tôi lại chuẩn bị một ít quà nhỏ và thư chúc mừng năm mới gửi đến các gia đình cơ sở cách mạng đã giúp đỡ tôi trong những năm hoạt động bí mật trước đây. Lần này tôi cũng chuẩn bị sẵn quà và thư chúc Tết như thế để khi tôi lên đường rồi, người nhà gửi đi như thường lệ.
Đọc thêm »

Thứ Năm, 10 tháng 1, 2013

Lòng yêu nước và khát vọng hoà bình

(Chu Lai)
Nhấn thanks để ủng hộ Blog
(baodautu.vn) Cho đến bây giờ, sau hơn 35 năm im tiếng súng, tôi vẫn chưa hiểu tại sao sức chịu đựng của con người Việt Nam lại có thể bền dai phi thường đến thế.
Thành cổ Quảng Trị - Nơi từng diễn ra những trận chiến ác liệt
Ba mươi năm chiến tranh ái quốc là ba mươi năm mất mát đến kinh hoàng, là ba mươi năm vượt ra ngoài khuôn khổ sức chịu đựng của con người, là ba mươi năm mà nếu không có lòng yêu nước, ý chí tự cường, lòng tự trọng của dân tộc, thì chúng ta sẽ không bao giờ bước qua được những dấu mốc lịch sử khốc liệt như vậy.
Đọc thêm »

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN (Chương 3)


ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN (Chương 3)
(Văn Tiến Dũng)

Chiến Trường Quan Trọng

Nhấn thanks để ủng hộ Blog

Hội nghị Bộ Chính trị vừa bế mạc thì hôm sau, ngày 9-1-1975, Thường trực Quân uỷ Trung ương họp, có mời thêm các đồng chí Võ Chí Công, Chu Huy Mân, Hoàng Minh Thảo, Lê Trọng Tấn để quán triệt và thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị.
Chúng tôi nghe báo cáo của Bộ Tổng Tham mưu về mục đích, yêu cầu của Chiến dịch Tây Nguyên. Đang họp thì được tin địch vẫn tiếp tục điều chỉnh sư đoàn dù để phòng thủ khu vực Đà Nẵng. Như thế là địch chưa phát hiện được lực lượng và chuẩn bị của ta ở Tây Nguyên.
Đọc thêm »

Thứ Tư, 9 tháng 1, 2013

Khổng tử: Đạo lý sáng suốt của người quân tử là cao xa, rộng lớn


Khổng tử:
Đạo lý sáng suốt của người quân tử là cao xa, rộng lớn
(Tác giả: Zhi Zhen)
Nhấn thanks để ủng hộ Blog


Khổng Tử
Trong thời kỳ Khổng Tử chu du liệt quốc của Trung Hoa, lúc đi ngang qua đất của nước Trần và Thái thì đoàn người của ông không còn lương thực nữa. Đối diện trước hoàn cảnh khó khăn, ông vẫn ngồi giữa hai gốc cây dạo đàn, ca hát, và soạn nhạc trong cuộc hành trình.

Học trò của ông, Tử Lộ, cảm thấy lo lắng, mới hỏi, “Thưa Thầy, Thầy vẫn ca hát ngay cả trong hoàn cảnh này. Đây có phải là một đòi hỏi trong cách cư xử về lễ nghĩa chăng?”

Khổng Tử không trả lời cho đến khi ông đàn xong một khúc nhạc. Sau đó ông nói, “Này Tử Lộ, dưới tình huống như vậy, người quân tử diễn tấu âm nhạc là để loại bỏ lòng kiêu hãnh của chính mình, trong khi kẻ tiểu nhân chơi nhạc là để dẹp đi sự sợ hãi của chính họ. Ngươi theo ta mà không thực sự hiểu ta sao?”

Khổng Tử đưa cho Tử Lộ một tấm khiên và bảo anh ta múa vũ với cái khiên này. Sau khi múa ba lần, Tử Lộ lấy lại bình tĩnh.

Một học trò khác, Tử Cống, thưa rằng, “Con đường Đạo của Thầy đã đạt đến cảnh giới rất cao, cho nên người trong thiên hạ không dễ gì chấp nhận. Thầy có thể hạ tiêu chuẩn của Thầy xuống một chút được không?”
Đọc thêm »

Phật giáo và Vũ-trụ-học

Phật giáo và Vũ-trụ-học
(Trần Chung Ngọc)

Nhấn thanks để ủng hộ Blog

Trong thời đại khoa học, khi mà những tiến bộ khoa học đã làm lui đi phần nào quan niệm thần thánh và những mớ huyền thoại, mê tín dị đoan của con người, thì càng ngày Phật Giáo càng chứng tỏ là một tôn giáo, từ cấu trúc, tư tưởng trong các Kinh điển cho tới phương pháp hành trì, rất là tương hợp với khoa học. Ngày nay, Phật giáo đã đi vào thế giới Tây phương một cách nhẹ nhàng, cởi mở và hòa đồng. Cho nên thế giới Tây phương càng ngày càng hâm mộ Phật Giáo về những sắc thái tiến bộ của Phật giáo, và những khoa học gia thượng thặng ngày nay cũng đã nhận ra rằng tư tưởng Phật Giáo đã giúp họ rất nhiều trong việc giải thích những hiện tượng khoa học và đã dẫn họ đến những tư tưởng mới và khám phá mới trong khoa học. Muốn hiểu được hiện tượng kỳ lạ trên, chúng ta cần duyệt sơ lại lịch sử khoa học Tây phương cũng như tìm hiểu những sắc thái đặc biệt của Phật giáo đối với khoa học.
Đọc thêm »

Phật Giáo và Cuộc Cách Mạng Khoa Học

Phật Giáo và Cuộc Cách Mạng Khoa Học

(Trần Chung Ngọc) 

Nhấn thanks để ủng hộ Blog

Mô hình động cơ hơi nước của James Watt.
Cuộc cách mạng khoa học phát khởi ở Tây phương từ thế kỷ thứ 16, phát triển mạnh trong thế kỷ thứ 17, mở đầu bằng những tư tưởng và công trình khảo cứu của Nicolaus Copernicus (1473-1543), Giordano Bruno (1548-1600), Galileo Galilei (1564-1642), Johannes Kepler (1571-1630) v...v...Người ta gọi đó là 1 cuộc cách mạng khoa học, bởi vì nhờ đó mà Tây phương thoát ra khỏi cảnh tăm tối đã kéo dài gần 1000 năm, từ năm 476 tới năm 1473. Thời gian này thường được gọi là thời Trung Cổ và cũng còn được gọi là thời kỳ tăm tối hay thời kỳ hắc ám (Dark Ages). Chính trong khoảng thời gian này, Tây phương đã bị thống trị bởi một ý thức hệ tôn giáo độc tôn. Những giáo điều, tín lý của Gia Tô Giáo, tôn giáo của Tây phương, cộng với quyền hành của các lãnh tụ tôn giáo ở địa vị nắm quyền, hay liên kết với những chính quyền đương thời, đã ngăn chặn sự phát triển khoa học và tự do tư tưởng của con người. Mọi khám phá khoa học, mọi tư tưởng trái ngược với Thánh Kinh đều bị lên án là tà đạo" (heretics), phải diệt trừ. Do đó, cũng chính trong khoảng thời gian này, Tây phương phải chịu đựng 8 cuộc Thánh Chiến (Crusades) và hàng trăm ngàn các vụ xử án dị giáo (Inquisitions), với kết quả là nhiều triệu người gồm già, trẻ, lớn, bé, trai, gái đã bỏ mạng vì, hoặc bị tàn sát, có khi tập thể; hoặc bị tra tấn bởi những dụng cụ tra tấn kinh khủng nhất trong lịch sử nhân loại (Hơn 40 dụng cụ tra tấn dã man này hiện được trưng bầy trong 1 bảo tàng viện nhỏ tên là Medieval Dungeon trên đường Jefferson, khu Fisherman Warf, tại San Francisco); hoặc bị treo cổ, hoặc bị đốt sống v...v..., tất cả chỉ vì họ không chấp nhận hay có những tư tưởng ngược với Thánh Kinh. Thánh chiến và tòa án xử dị giáo là những sản phẩm đặc thù của Gia Tô Giáo Âu Châu, vì người ta không thể tìm thấy những thứ này trong lịch sử của bất cứ tôn giáo nào ở Đông phương, nhất là Phật Giáo. Đó là những vết tỳ ố không sao tẩy xóa được trong lịch sử loài người, dù Giáo hội Gia Tô đã làm hết sức để quảng cáo cái bộ mặt "thánh thiện" ngụy trang dưới những chiêu bài như nhân quyền, từ thiện v..v.. với hi vọng làm cho thế giới ngày nay quên đi cái lịch sử tàn bạo của Giáo hội, đẫm máu và nước mắt của hàng triệu người vô tội. Nhưng trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại, giáo hội Gia Tô không thể cứ mãi mãi che dấu tội lỗi trải dài suốt 2000 năm nay, cho nên, ngày 12 tháng 3, 2000, Giáo Hoàng John Paul II cùng 5 Hồng Y và 2 Tổng Giám Mục, trong một "thánh lễ" tại "thánh đường" Phê-rô, đã phải "xưng thú 7 núi tội lỗi" của "hội thánh", và "xin được tha thứ".
Đọc thêm »

Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2013

Triều Lý - Sự phát triển của quốc gia phong kiến độc lập


Triều Lý
Sự phát triển của quốc gia phong kiến độc lập

Nhấn thanks để ủng hộ Blog

1. Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn 1010 – 1028)
Niên hiệu: Thuận Thiên.
Tượng Lý Thái Tổ tại Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội
Người khởi dựng triều Lý là Lý Công Uẩn (Lý Công Uẩn lên ngôi vào tháng 10 năm 1009, ông đặt hiệu riêng từ 1010, nên sử cũ vẫn thường tính năm đầu thời Lý Thái Tổ là năm 1010).người làng Cổ Pháp (Từ Sơn, Bắc Ninh). Công Uẩn sinh năm Giáp Tuất (974), là con nuôi của thiền sư Lý Khánh Văn từ 3 tuổi và truyền thuyết vẫn cho rằng ông là con của Vạn Hạnh, anh ruột Khánh Văn.
Công Uẩn lớn tỏ rõ có chí lớn khác thường. Ông đến Hoa Lư làm quan nhà Tiền Lê đến chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ. Khi vua Thiếu Ðế bị chết, biết ông ôm thây vua khóc. Vua Ngoạ Triều khen là trung, cử ông là Tả tướng quân chế chỉ huy sứ thống lĩnh hết quân túc vệ.
Khi Lê Long Ðĩnh mất, Lý Công Uẩn đã ngoài 35 tuổi. Vua kết tự Long Ðĩnh còn nhỏ, Lý Công Uẩn chỉ huy quân túc vệ trong chốn cung cấm. Bây giờ lòng người đã oán giận nhà Lê nên quan Chi hậu là Ðào Cam Mộc cùng các quan trong triều tôn Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế vua Thái Tổ nhà Lý. Vua Thái Tổ thấy Hoa Lư hẹp nên bèn dời đô về La Thành. Tháng bảy năm Thuận Thiên nguyên niên (1010) vua khởi sự rời đô. Khi ra đến La Thành, Thái Tổ lấy cớ có điềm trông thấy rồng vàng bay lên liền đổi Ðại La thành Thăng Long thành (tức Hà Nội bây giờ), đổi Hoa Lư thành phủ Tràng An và Cổ Pháp thành phủ Thiên Ðức. Vua Thái Tổ chỉnh đốn việc cai trị, chia nước làm 24 lộ, hội Hoan Châu và Ái Châu là trại.
Vốn thông minh bẩm sinh, lại được nhập thân văn hoá cơ vùng đất văn minh, văn hiến, lại được sự nuôi dạy của những vị cao tăng xuất chúng, Lý Công Uẩn thực sự là người con ưu tú của dân tộc. Ông đã cùng triều Lý làm rạng danh nước Ðại Việt, viết nên những trang sử oanh liệt dựng nước và giữ nước.
Chùa Ứng Tâm nơi ông sinh ra bây giờ có tên là chùa Dặn.
Ngôi huyệt chỗ giếng nước ở rừng Báng năm xưa, những gò ở xung quanh trông giống như hoa sen nở 8 cánh nên nhà Lý truyền ngôi được 8 đời.
Vua Lý Thái Tổ trị vì 19 năm thì mất, thọ 55 tuổi.
Đọc thêm »

Thứ Bảy, 5 tháng 1, 2013

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN (Chương 2)

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN (Chương 2)
(Văn Tiến Dũng)

Thời Cơ
Nhấn thanks để ủng hộ Blog

Hình tham khảo từ Internet
Trong các tháng 7, 8, 9, 10 năm 1974, các cơ quan Bộ Tổng Tham mưu làm việc nhộn nhịp và căng thẳng. Các đồng chí trong Quân uỷ Trung ương và Bộ Chính trị hàng ngày theo dõi tình hình và chỉ đạo việc nghiên cứu dự thảo kế hoạch tác chiến chiến lược.
Lúc này, một luồng gió mát phấn chấn thổi qua toàn Đảng và toàn dân ta: Cách mạng miền Nam đang trỗi dậy sau Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 của Trung ương Đảng và Nghị quyết của Quân uỷ Trung ương tháng 3 năm 1974.
Đọc thêm »

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN (Chương 1)

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN (Chương 1)
(Văn Tiến Dũng)

Bạo Lực Cách Mạng
Nhấn thanks để ủng hộ Blog

Hình tham khảo từ Internet
Mùa xuân năm 1974, sau Tết Giáp Dần, Hội nghị cán bộ quân sự cao cấp họp tại số nhà 33 phố Phạm Ngũ Lão - Hà Nội. Hội nghị có đủ đại biểu các chiến trường, các quân chủng, binh chủng, các quân đoàn, sư đoàn và đại biểu các cơ quan Bộ Tổng tư lệnh để thảo luận quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 của Trung ương Đảng họp tháng 10 năm 1973 và phổ biến Nghị quyết tháng 3 năm 1974 của Quân uỷ Trung ương đã được Bộ Chính trị thông qua.
Đọc thêm »

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN (Lời Nói Đầu)

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN (Lời Nói Đầu)
(Văn Tiến Dũng)

LỜI NÓI ĐẦU
Nhấn thanks để ủng hộ Blog

Hình tham khảo từ Internet
Một năm đã qua kể từ ngày cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975 giành toàn thắng, đánh bại hoàn toàn chiến tranh xâm lược và ách thống trị thực dân mới của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Thời gian không làm phai nhạt mà chỉ càng làm rõ nét hơn chiến công vĩ đại của quân và dân ta. Đại thắng Mùa Xuân đã được khắc sâu vào lịch sử bằng những chữ vàng chói lọi.

Chỉ trong 55 ngày đêm, với quyết tâm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tốc độ "một ngày bằng 20 năm" với sức mạnh áp đảo cả về quân sự và chính trị tích luỹ từ nhiều năm, quân và dân ta đã giành toàn thắng bằng ba chiến dịch lớn: Chiến dịch giải phóng toàn bộ Tây Nguyên mở đầu bằng trận đánh Buôn Ma Thuột;
Đọc thêm »

Bức tranh của chúng ta về vũ trụ

Bức tranh của chúng ta về vũ trụ

(Trích từ: Lược sử thời gian)
Tác giả: Stephen Hawking
Nhấn thanks để ủng hộ Blog

Bức tranh nghệ thuật thể hiện hệ địa tâm
có các dấu hiệu của hoàng đạo và hệ mặt trời
với trái đất ở trung tâm
Một nhà khoa học nổi tiếng (hình như là Bertrand Russell) một lần đọc trước công chúng một bài giảng về Thiên văn học. Ông đã mô tả trái đất quay quanh mặt trời như thế nào và đến lượt mình, mặt trời lại quay quanh tâm của một quần thể khổng lồ các vì sao - mà người ta gọi là thiên hà - ra sao. Khi bài giảng kết thúc, một bà già nhỏ bé ngồi ở cuối phòng đứng dậy và nói: “Anh nói với chúng tôi chuyện nhảm nhí gì vậy? Thế giới thực tế chỉ là một cái đĩa phẳng tựa trên lưng một con rùa khổng lồ mà thôi”. Nhà khoa học mỉm một nụ cười hạ cố trước khi trả lời: “Thế con rùa ấy tựa lên cái gì?”. “Anh thông minh lắm, anh bạn trẻ ạ, anh rất thông minh”, bà già nói, “nhưng những con rùa cứ xếp chồng lên nhau mãi xuống dưới, chứ còn sao nữa”.
Đọc thêm »

Thứ Ba, 1 tháng 1, 2013

Nguyễn Du và trăng

Nguyễn Du và trăng
(Đỗ Ngọc Thạch)
Nhấn thanks để ủng hộ Blog

 
 
Trong Thơ chữ Hán của Nguyễn Du có bài Ký Huyền Hư tử (Gửi Huyền Hư tử) rất đáng chú ý. Lâu nay người ta vẫn cho rằng Huyền Hư Tử là tên hiệu một người bạn của Nguyễn Du, không rõ tên thật là gì.

Song nếu ta suy nghĩ kỹ về hai câu tả mây và trăng (phù vân, minh nguyệt – câu 5 và câu 6) thì sẽ có thể thấy rằng ở đây chẳng có người bạn nào cả mà hai chữ Hư Tử đã có nghĩa như vậy: người không có thực! Bài thơ Gửi Huyền Hư Tử chính là lời tâm sự của Nguyễn Du chỉ biết gửi cho mây, cho trăng: trăng ở đây là người bạn “lặng lẽ không lời” đêm đêm của Nhà thơ. Điều này phù hợp với nỗi niềm chất chứa của Tố Như “Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ” (Ta có một tấc lòng không biết ngỏ cùng ai) – không thể nói với ai thì chỉ có thể nói với Trăng:
Đọc thêm »

Thi Trung Hữu Nguyệt

Thi trung hữu nguyệt

(Tác giả: Đỗ Ngọc Thạch)
Nhấn thanks để ủng hộ Blog

Lý Bạch(*) là nhà thơ lớn thời Đường, là một ngôi sao sáng chói trên thi đàn Trung Quốc từ thời nhà Đường đến nay. Người ta thường gọi ông là Thi Tiên (Trích Tiên Lý Bạch).

Học giả Lý Dương Băng trong "Thảo Đường Tập Tự" đã có câu nói bất hủ về thiên tài Lý Bạch “Thiên tải độc bộ, duy công nhất nhân” (Hàng ngàn năm chỉ có một mình ông mà thôi). Hơn một ngàn bài thơ của Lý Bạch còn để lại có một ảnh hưởng rất sâu rộng trong lịch sử văn học Trung Quốc và được lưu truyền rộng rãi trong nhân gian. Ở Trung Quốc cũng như trên thế giới, nhiều học giả đã dày công nghiên cứu thi ca Lý Bạch và luôn tìm thấy những vẻ đẹp mới của thơ Lý Bạch. Thơ của Lý Bạch rất giản dị tự nhiên, không cầu kỳ chải chuốt, gọt dũa mà ý thơ sâu sắc, có sức truyền cảm mạnh mẽ và sức quyến rũ một cách lạ lùng. Người ta gọi Lý Bạch là “Người Trung Hoa kim cổ kỳ nhân” chính vì vậy.
Đọc thêm »

Tam thập lục kế (Tôn Vũ)


Tôn tử binh pháp
Tam thập lục kế

(TÔN VŨ) 
Nhấn thanks để ủng hộ Blog

1. Dương đông kích tây (Đánh lạc hướng đối phương)

Kế "Dương đông kích tây" là reo hò giả vờ như thật sự đánh vào phía đông, nhưng chủ yếu lại đánh vào phía tâỵ

Trong tất cả mọi vấn đề của xã hội, từ chiến trường, thương trường, chính trường cho đến tình trường; nếu muốn điều này nhưng lại giả làm điều kia, nói điều này mà làm điều nọ, ấy là "Dương đông kích tây" vậỵ

Kế này mờ ảo vô song. Nó rất khó biết, khó đoán, bị đánh bất ngờ. Kế này nhằm chuyển mục tiêu để lừa dối đối phương, khiến cho địch sơ ý, lừa lúc bất ý tấn công kẻ không chuẩn bị.

Có nhiều cách thức để thực hiện kế này, như:

- Tạo tin đồn. - Làm rối tai rối mắt địch. - Buộc đối phương lo nhiều mặt. - Mê hoặc ý chí của địch. - Nghi binh. - Làm phân tán lực lượng đối phương. - Làm yếu lực lượng đối phương, lực lượng phòng vệ địch.

Nguyên tắc của " Dương đông kích tây" là bí mật và chủ động. Bị động coi như phải chịu sự khống chế của địch.

Điều kỵ khi dùng kế " Dương đông kích tây" là để lộ cơ.

Lộ cơ là mất hết khả năng phòng bị, chuẩn bị. Dù là trên chiến trường, thương trường hay chính trường cũng đều phải giữ bí mật và nắm được thế chủ động.
Đọc thêm »