This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Bảy, 10 tháng 11, 2012

Phạm Xuân Ẩn và huyền thoại nghề báo khiến Mỹ 'chết sặc'

Phạm Xuân Ẩn và huyền thoại nghề báo khiến Mỹ 'chết sặc'

Thiếu tướng tình báo, Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân, nhà báo Phạm Xuân Ẩn sinh ngày 12/9/1927 tại Biên Hòa và mất ngày 20/9/2006 tại TP Hồ Chí Minh, hưởng thọ 80 tuổi.Trở về nước, ông bắt đầu sự nghiệp trong thập niên 1960 cho hãng tin Reuters, rồi đến Herald Tribune của New York và The Christian Science Monitor. Cuối cùng, trở thành người Việt chính thức duy nhất của tạp chí Time suốt 11 năm, chứ không phải cộng tác viên địa phương.Những người cùng thời nhận xét, nhà báo Phạm Xuân Ẩn được giới báo chí miền Nam Việt Nam trong những thập niên 60-70 cực kỳ kính nể với nguồn tin bài phong phú và cách đánh giá nhìn nhận nhiều chiều. Theo Laura Palmer, Phạm Xuân Ẩn là một trong những nguồn thạo tin nhất ở Sài Gòn và rất nhiều phóng viên phải phụ thuộc vào ông.Trong suốt thời gian hoạt động tại Sài Gòn đến những năm giải phóng 1975, Phạm Xuân Ẩn bằng những mối quan hệ rộng lớn của một nhà báo, cùng khả năng khai thác và phân tích thông tin của mình, đã bí mật gửi cho Trung ương những tin tức tình báo quý giá, góp phần làm nên những thắng chiến thắng lịch sử của dân tộc ta như: trận Ấp Bắc 1963, trận Khe Sanh 1968, trận Đường 9 Nam Lào 1971 …; đồng thời, đập tan Kế hoạch chiến tranh cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh của đế quốc Mỹ.

Một cuộc đời có một không hai, một điệp viên huyền thoại, ông - không ai khác - chính là Thiếu tướng tình báo, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nhà báo Phạm Xuân Ẩn

Khi ông Phạm Xuân Ẩn mất, nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt và nguyên Bí thư trung ương Đảng Trần Quốc Hương (tức ông Mười Hương) vinh danh ông là niềm tự hào của ngành tình báo Việt Nam; còn thế giới thì đánh giá ông là 1 trong những điệp viên cừ khôi nhất của thế kỷ XX.
Đọc thêm »

Thứ Sáu, 9 tháng 11, 2012

Hoàng Ngọc Phách


Hoàng Ngọc Phách (1896-1973)

Hoàng Ngọc Phách (1896-1973): Quê ở làng Đông Thái xã Yên Đường ( nay là xã Tùng Ảnh) tổng Việt Yên, huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh, hiệu là Song An, cha ông là một nhà nho từng tham gia phong trào Cần Vương.
Sau khi phong trào Cần Vương thất bại để tránh khủng bố gia đình Hoàng Ngọc Phách chuyển ra Thuận Thành Bắc Ninh (nay là Hà Bắc). Cả hai miền quê điển hình của Việt Nam ấy đều có ảnh hưởng sâu sắc đến sự nghiệp nhà giáo, nhà văn của Hoàng Ngọc Phách. Hồi nhỏ học chữ Nho với thân phụ, năm 1911 học tiếng Pháp tại Hà Nội, năm 1913 đỗ bằng khoá sinh, năm 1914 đỗ bằng tiểu học Pháp - Việt và trúng tuyển vào trường Trung học Bảo hộ, năm 1919 đỗ bằng Cao Đẳng tiểu học Pháp và bằng Thành Chung cũng năm ấy ông trúng tuyển vào trường Cao đẳng sư phạm và tốt nghiệp năm 1922. Suốt 20 năm dạy học dưới chế độ thực dân do có liên quan xa gần đến phong trào yêu nước trong các trường đại học ông luôn bị chuyển đến hết nơi này đến nơi khác. Năm 1935 về dạy học tại Bắc Ninh nhiều lần giữ chức Giám đốc học khu Bắc Ninh cho đến tận Tổng khởi nghĩa. Cách mạng tháng Tám thành công ông giữ những trọng trách trong ngành giáo dục, sau ngày hoà bình lập lại ông công tác ở Ban tu thư Bộ giáo dục, tham gia sưu tầm biên soạn các công trình về văn học cổ điển, cận đại dân gian Việt Nam.
Đọc thêm »

Chu Văn An - Nhà giáo dục đầu tiên của Việt Nam

Chu Văn An (1292 - 1370)

Chu Văn An (còn gọi là Chu An) người thôn Văn, Xã Quang Liệt, nay là Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội (quê mẹ). Theo Đăng khoa học bổ dị, từ 14, ông thi đậu Thái học sinh (như tiến sĩ) nhưng không ra làm quan. Ông mở trường dạy học trên một cánh đồng tại làng Huỳnh Cung, giáp với thôn Văn. Học trò của ông rất đông, nhiều người thành đạt như Phạm Sư Mạnh, tể tướng đời Trần Dụ Tông, Lê Bá Quát làm thượng thư.
Ông dạy học rất nghiêm, lấy mình làm gương mẫu cho học trò noi theo. Tể tướng Phạm Sư Mạnh, Thượng thư Lê Bá Quát, những khi về trường thăm thầy, được thầy khuyên bảo, khen chê đều rất phấn khởi.
Tài đức của Chu Văn An đến tai nhà vua. Trần Minh Tông (1300 - 1357) mời ông ra làm tư nghiệp trường Quốc Tử Giám (như phó giám đốc trường đại học) và dạy thái tử học. Thái tử Vượng lúc đó mới khoảng 5 - 6 tuổi. Cho nên ông giảng dạy ở Quốc Tử Giám là chính. 10 tuổi, thái tử Vượng lên ngôi (Trần Hiếu Tông). Vượng mất, Dụ Tông (1336 - 1369) lên nối ngôi khi mới 8 tuổi. Minh Tông vẫn làm Thượng hoàng đến năm 1457 thì mất, chính sự từ đó đổ nát. Dụ Tông trở nên hư đốn, suốt ngày cờ bạc rượu chè. Ông ta thường gọi bọn nhà giàu vào cung đánh bạc; bắt các quan thi uống rượu, ai uống được 100 thăng (chén to) thì thưởng cho hai trật; bắt các công chúa, vương hầu phải hát tuồng trong cung v.v... Chu Văn An nhiều lần khuyên can nhưng không được. Ông dâng sớ xin chém 7 tên nịnh thần. Dụ Tông không nghe. Ông bèn trả lại áo mũ, từ quan về quê.
Đọc thêm »

143 NĂM VƯƠNG TRIỀU NGUYỄN (1802-1945)

Triều Nguyễn - triều đại Phong kiến cuối cùng ở Việt Nam, đã tồn tại trong suốt hơn 143 năm (1802-1845) với 13 đời vua Nguyễn. Thông thường các vua Nguyễn sau khi mất, bài vị được đưa vào thờ tại Thế Miếu, có Miếu hiệu ứng với tên của các đỉnh đồng đúc dưới thời Minh Mạng (1835), trừ các vua bị phế truất và các vua bị Pháp đày ra khỏi nước. Riêng vua Dục Đức (phế đế) có Miếu hiệu Cung Tôn Huệ Hoàng đế là do con trai là vua Thành Thái truy phong, nhưng bài vị không được đưa vào thờ tại Thế Miếu. Các vị vua yêu nước Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân vào năm 1959 đã được Hội Đồng Nguyễn Phước Tộc làm lễ và đưa bài vị vào thờ tại Thế Miếu.
Dưới đây là những ghi chép vắn tắt về 13 vua Nguyễn:
1.Vua Gia Long (1802-1819)*
Vua Gia Long tên là Nguyễn Phúc Ánh (Anh), ngoài ra còn có tên là Chủng và Noãn, con thứ 3 của Nguyễn Phúc Côn (Luân) và bà Nguyễn Thị Hoàn. Nguyễn Phúc Ánh sinh ngày 15 tháng Giêng năm Nhâm Ngọ (8-2-1762).
Năm 1775, lợi dụng sự suy sụp của triều đình chúa Nguyễn do cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, quân Trịnh vào chiếm Phú Xuân khiến Nguyễn Phúc Ánh phải trốn vào Nam. Từ đó ông bôn tẩu gian nan, tìm đủ mọi cách chiêu tập lực lượng để giành lại vương quyền cho họ Nguyễn. Năm 1792, vua Quang Trung mất, quân Tây Sơn ngày càng yếu và quân Nguyễn ngày càng lớn mạnh. Năm 1801, quân Nguyễn do Nguyễn Phúc Ánh chỉ huy đã đánh chiếm Quy Nhơn và chiếm Thuận Hóa.
Ngày 1-2-1802, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi Hoàng đế ở Phú Xuân, lấy niên hiệu là Gia Long, chính thức lập nên triều đại nhà Nguyễn. Tháng 3 năm 1804, vua Gia Long đổi quốc hiệu nước ta là Việt Nam .
Gia Long làm vua được 18 năm (1802-1819), mất vào ngày 19 tháng Chạp năm Kỷ Mão (ngày 3 tháng 2 năm 1820), hưởng thọ 58 tuổi. Sau khi mất, bài vị vua Gia Long được đưa vào thờ ở Thế Miếu và có Miếu hiệu là Thế Tổ Cao Hoàng đế.
Đọc thêm »

THƠ HOÀNG XUÂN HẠO

Như đã giới thiệu với bạn đọc ở phần trước, nay tôi xin trích giới thiệu đến với bạn đọc hai bài thơ “Tự thán”“Tình thu muộn” trong tập thơ “Muôn dặm nước non” của Hoàng Xuân Hạo. Mời bạn đọc thưởng lãm!

TỰ THÁN
Ba mươi tuổi lẻ những long đong
Thời vận chông chênh bận nỗi lòng
Mưa gió sụt sùi hai mái tóc
Áo cơm chèo chống một tay không
Phận duyên mỏng mảnh nhiều giong ruổi
Thi phú đa mang mấy ngại ngùng!
Thao thức canh dài thêm ngán nỗi
Ngoài hiên chim hót báo hừng đông
                (Phú thọ - 1978)
 
----****----
 
TÌNH THU MUỘN
Cát bụi chưa dừng bước lãng du
Sen tàn thêm rộn tiếng mưa thu
Lá hoa thềm cũ sao xa vắng
Hương sắc thời xưa vẫn mịt mù
Trăng lạnh thuyền không sầu Thái Thạch
Đàn chùng sương thấm lệ Giang Châu
Đêm khuya sực nhớ người hoa mộng
Tình bỏ theo mây bóng gục đầu!

KHI THU RỤNG LÁ (LƯU TRỌNG LƯ)

BẾN MY LĂNG (YẾN LAN)

Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2012

Tự bấm huyệt chữa ngạt mũi, sổ mũi


Để xử trí tình trạng này, có thể nhỏ thuốc hoặc dùng bơm tiêm hút sạch mũi (ở trẻ nhỏ), hít nước qua mũi. Ngoài ra, có thể thực hiện một phương pháp đơn giản mà hiệu quả: bấm huyệt. Các huyệt cần tác động là ấn đường, nghinh hương, hợp cốc.

Huyệt ấn đường nằm ở giao điểm đường thẳng nối hai đầu lông mày với đường chính trung (đi qua chính giữa mặt trước cơ thể), có tác dụng trừ phong nhiệt, định thần chí. Việc tác động vào huyệt này giúp chữa ngạt mũi, cảm mạo, nhức đầu...
Đọc thêm »

3 nhóm thảo dược trị mụn hiệu quả


Trà xanh, dưa leo, mướp đắng... được xem là những dược thảo chống mụn hiệu quả. Chúng được chia thành 3 loại: nhóm kháng sinh, nhóm diệt cồi mụn và nhóm tác dụng kép - vừa bảo vệ da khỏi độc chất, vừa thúc đẩy phản ứng phục hồi dưới da.

- Nhóm dược thảo kháng sinh có tác dụng thanh trùng da mặt dưới dạng sữa rửa mặt hằng ngày được sản xuất từ rau trái thông thường như trà xanh, chanh, bưởi, dưa leo, mướp đắng, bồ công anh, cà rốt, dưa gang... Ngoài ra còn có một số cây thuốc kinh điển như kim ngân hoa, bồ kết, bồ công anh, hoa cúc, sứ, dâm bụt, mồng gà, vạn thọ... cũng thuộc nhóm này.

Đọc thêm »

Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2012

Đông y chữa đau dạ dày - tá tràng






           Căn bệnh này trong Đông y có tên là vị quản thống,
       biểu hiện là đau vùng thượng vị, thường phát ra ở tỳ, vị.
       Bệnh thường hay chuyển thành mạn tính và dễ tái phát.




Dưới đây là những bài thuốc chữa viêm loét dạ dày tá tràng theo từng thể bệnh:
Đọc thêm »

CẦM CHÂN EM, CẦM CHÂN HOA (YẾN LAN)


Em đến xin hồng, hồng chửa nụ

Hôm nay hồng nở, bóng em xa

Cầm em bữa trước em không ở

Giờ biết làm sao cầm được hoa?

Cái hay của bài thơ chính là nghệ thuật xây dựng một hệ thống những hình ảnh tương phản và tương đồng. Với 4 câu thơ mà ta nhận ra cái hệ thống đó. Tương phản về thời gian trực tiếp: bữa trước/hôm nay, giờ. Tương phản về thời gian gián tiếp: hồng chửa nụ/hồng nở. Tương phản về không gian: em đến/bóng em xa. Tương phản về cả hành động của con người: cầm (chân) em/em không ở. Tất cả những chit tiết đó đều thống nhất nói về tâm lý con người, về cái tình của con người mà thôi: cái tình của tác giả.
Đọc thêm »

Thứ Năm, 1 tháng 11, 2012

VƯỜN THANH LONG CỦA BA

 
Khi đợt áp thấp nhiệt đới qua đi có lẽ ba tôi là người buồn nhất. Vườn thanh long mà ba đã dày công chăm bón, mùa này không ra hoa, kết trái như mong đợi…
  
Buổi sáng, ba dậy sớm ăn vội miếng cơm nguội còn lại từ chiều qua, tranh thủ chạy ra vườn thanh long để xem một lượt rồi đi làm.
Vườn thanh long ba trồng trên mảnh đất vỏn vẹn khoảng 3.000m². Đối với gia đình tôi thì nó là nguồn sống, là nơi mà anh em tôi có cái ăn, cái mặc với biết bao mồ hôi, nước mắt của ba ở đó.
Tin áp thấp gần bờ, ba tôi lại mất ngủ, cả đêm hết ra ngắm trời rồi chốc chốc lại thở dài khi trời còn nhiều mây, u ám.
Đọc thêm »

MƯU LƯỢC ĐẶNG TIỂU BÌNH-PHẦN 1 (Mục 3)


Mưu lược trị loạn

Mục 3: Mưa rừng chưa tới, gió đã đầy đầu. Anh xem gió từ hướng nào thổi tới?”



Tác giả Truyện Đặng Tiểu Bình Man Phơranxơ cho rằng: “Cuộc đời chính trị của Đặng Tiểu Bình hoàn toàn được quyết định bởi việc giải quyết vấn đề Cao Cương – Nhiêu Thấu Thạch.”
Bản thân Đặng cũng thừa nhận, ông biết rất rõ sự kiện Cao – nhiêu. Sau ngày dựng nước, ba người hầu như đồng thời được điều lên trung ương. Trước đó, Cao ở cục Đông Bắc, Nhiêu ở cục Hoa Đông, Đặng ở cục Tây Nam, đều phụ trách công tác Đảng và chính quyền ở một địa phương. Nhìn bề ngoài, chức vụ của Cao và Đặng như nhau, dầu là bí thư thứ nhất của một cục địa phương. Nhưng trên thực tế, địa vị của Cao quan trọng hơn, vì vùng Đông Bắc nơi Cao phụ trách, xét về ba mặt đều có ý nghĩa chiến lược quan trọng đối với toàn quốc: ở đây tập trung nền công nghiệp chủ yếu của toàn quốc, là hậu phương của chiến tranh Triều Tiên, lại là chiếc cầu nối sang Liên xô. Bản thân Cao là bạn thân lâu năm của Xtalin, nắm quyền cao nhất ở Đông Tam tỉnh, được gọi là Thái thượng hoàng vùng Đông Bắc. Ngày 1.10.1952, khi Cao tiến hành duyệt binh ở đất thánh của mình, thì quần chúng hô “Cao Cương muôn năm” chứ không hô “Mao Trạch Đông muôn năm”? Không lâu sau, Cao bị điều về Bắc Kinh, được bổ nhiệm làm Phó Chủ tịch nước và chủ nhiệm ủy ban kế hoạch Nhà nước.
Đọc thêm »

MƯU LƯỢC ĐẶNG TIỂU BÌNH-PHẦN 1 (Mục 2)

Mưu lược trị loạn
Mục 2: “Mao Trạch Đông quyết định dùng lại Đặng Tiểu Bình, ngoài lý do ông là nhân tài tài hiếm có nguyên nhân ông là kẻ cầm đầu phái Mao rõ ràng là có tính then chốt”
Mùa thu năm 1931, Đặng Tiểu Bình mới 27 tuổi, vừa hoàn thành sứ mạng ở Quảng Tây, dẫn quân về với Mao Trạch Đông, mở ra căn cứ địa ở Giang Tây, tây Phúc Kiến. Đảng giao cho ông nhiệm vụ thứ nhất là làm Bí thư huyện ủy Thụy Kim ở khu Xô Viết Trung ương. Đặng nhận nhiệm vụ không lâu, thì cơ quan Trung ương của Đảng vốn đặt ở Thượng Hải cũng lục tục kéo về khu Xô viết. Thụy Kim liền trở thành thủ đô đỏ – nơi đặt căn cứ của chính phủ lâm thời Xô Viết Trung Hoa và Ban Chấp hành Trung ương lâm thời. Đặng là một cán bộ cấp giữa, không thể không nhường lại vị trí cho các đồng chí mới từ Thượng Hải về. Tháng 5.1932, Đặng rời khỏi thủ đô đỏ, về làm Bí thư huyện ủy trung tâm Hội Xương ở biên khu phía nam, nắm công việc ở ba huyện Hội Xương, Tầm Ô, An Viễn. Ba huyện này ở vùng tiếp giáp giữa khu đỏ và khu trắng, là cánh cửa lớn phía nam của khu Xô Viết Trung ương, có vị trí chiến lược rất quan trọng, nhưng trình độ xích hóa kém xa địa khu trung tâm. Mỗi huyện chỉ có một tiểu đoàn độc lập súng ống của đội xích vệ cũng rất ít, các cửa hiệu phần nhiều đã đóng cửa, tài chính kinh tế hết sức khó khăn. Đặng Tiểu Bình không thể không làm mọi việc từ đầu theo biện pháp của Mao Trạch Đông, vật lộn với khó khăn, không lâu đã có thành tích. Mao Trạch Đông đến Hội Xương kiểm tra công tác, đã làm thơ khen ngợi “Phong cảnh nơi đây tuyệt đẹp.”
Đọc thêm »

MƯU LƯỢC ĐẶNG TIỂU BÌNH-PHẦN 1 (Mục 1)

Mưu lược trị loạn
Mục 1: “Việc trở lại cầm quyền của Đặng Tiểu Bình, dù có lục tìm hết trong sử sách Trung Quốc cũng không có chuyện nào ly kỳ như vậy”
Trong cuốn sách Những ngôi sao trong Đảng Cộng sản Trung Quốc của Harisơn có một ngôi sao đặc biệt sáng chói, ông ta gọi đó là người lùn không thể bị đánh đổ ông ta định chỉ ai, ta không cần đọc tiếp cũng có thể đoán ra được, bởi vì trong số lãnh tụ Đảng Cộng sản Trung Quốc người thấp bé nhất và mấy lần bị đánh mà không đổ thì chỉ có một người, đó là Đặng Tiểu Bình. Trong cuộc sống mang tính truyền kỳ của Đặng Tiểu Bình, tình tiết khiến người ta quan tâm nhất là ba lần bị ngã lại ba lần vùng lên trên vũ đài chính trị:
Đọc thêm »