This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Ba, 5 tháng 2, 2013

GIỚI THIỆU DANH NHÂN TRIẾT HỌC - ALFRED NORTH WHITEHEAD

GIỚI THIỆU DANH NHÂN TRIẾT HỌC - ALFRED NORTH WHITEHEAD NHÀ SIÊU HÌNH HỌC CỦA THẾ KỶ XX

ALFRED NORTH WHITEHEAD
Alfred North Whitehead (1861 – 1947) – nhà triết học, lôgíc học, toán học, phương pháp luận khoa học và lý luận giáo dục người Anh. Ông học tại trường Sherborn và Trinity ở Cambridge. Sự nghiệp khoa học của ông bao gồm ba giai đoạn chính, hai ở Anh và một ở Mỹ. Ngay sau khi tốt nghiệp Trường Trinity, ông được giữ lại trường và giảng dạy toán học trong 25 năm liền. Đây là giai đoạn ông hợp tác với B.Russell viết chung tác phẩm nổi tiếng Những nguyên lý toán học(1). Từ năm 1911 đến năm 1924, ông chuyển đến London dạy toán học ứng dụng và cơ học tại Đại học London. Trong thời gian này, ông được bầu là thành viên của Hội khoa học Hoàng gia và Viện Hàn lâm Anh. Từ năm 1924 đến năm 1936, ông đến Mỹ, chuyên tâm nghiên cứu và giảng dạy triết học tại Đại học Havard và là giáo sư danh dự của trường này cho đến cuối đời.

A.N.Whitehead được thừa nhận là nhà siêu hình học của thế kỷ XX, bởi điều mà ông quan tâm trong khoa học tự nhiên hiện đại là hàng loạt vấn đề của chính triết học và siêu hình học. Vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, khi khoa học tự nhiên hiện đại đã có sự phát triển mạnh mẽ, bùng nổ các phát minh và đạt được những đỉnh cao mới, A.N.Whitehead cùng với H.Berson (1859 – 1941, nhà triết học Pháp) đã đặt ra những câu hỏi và các giả định siêu hình về phương thức tư duy của khoa học. Không giống như một số nhà tư tưởng thời kỳ này phản ứng chống lại tinh thần khoa học, A.N.Whitehead thừa nhận khoa học đã giúp con người trong việc làm chủ thiên nhiên. Những tiên đề chính của khoa học thời kỳ này là: thiên nhiên gồm những vật thể vật chất chiếm chỗ trong không gian; vật chất là chất liệu cơ bản không thể giản lược được và mọi vật được cấu thành từ đó. Khuôn mẫu tư duy phân tích được đề cao, do vậy, bản chất và sự vận động của tự nhiên được các nhà khoa học cho là giống như cái máy. Mọi sự vật đặc thù trong tự nhiên giống như các bộ phận của một cái máy lớn. Các vật thể chuyển động trong không gian phù hợp với các quy tắc chính xác của toán học. Bản chất của con người cũng được nhìn nhận theo tư duy máy móc này, con người không còn tự do ý chí nữa.
Đọc thêm »

TỪ TƯ TƯỞNG “NHÂN NGHĨA” ĐẾN ĐƯỜNG LỐI “NHÂN CHÍNH”

TỪ TƯ TƯỞNG “NHÂN NGHĨA” ĐẾN ĐƯỜNG LỐI 
“NHÂN CHÍNH” TRONG HỌC THUYẾT CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA MẠNH TỬ
BÙI XUÂN THANH (*)
Mạnh Tử
Dựa trên nền tảng đức nhân của Khổng Tử, Mạnh Tử đã chủ trương hiện thực hoá đức nhân trong xã hội, xây dựng nên tư tưởng nhân nghĩa và vận dụng tư tưởng đó vào hiện thực xã hội. Theo Mạnh Tử, nhân nghĩa là phẩm chất cần thiết cho tất cả mọi người và khi nó được ứng dụng vào việc trị nước sẽ trở thành nhân chính. Có thể nói, khi đi từ tư tưởng nhân nghĩa đến đường lối nhân chính, Mạnh Tử đã làm cho đạo đức hoá thân vào chính trị, làm cho tư tưởng đức trị trở nên sâu sắc hơn, có ý nghĩa hơn đối với xã hội Trung Quốc đương thời.

Khi nghiên cứu tư tưởng triết lý, chính trị, đạo đức của Nho gia Tiên Tần qua các nhà tư tưởng lớn, với các tác phẩm lớn mà sau này được xếp vào hàng kinh điển của Nho gia, có thể nói, điểm đặc sắc nhất trong học thuyết chính trị - xã hội của Mạnh Tử là tư tưởng nhân nghĩa và dùng nhân nghĩa trong chính trị. Trên cơ sở kế thừa và cải biến các phạm trù đạo đức của Khổng Tử, Mạnh Tử đặc biệt đề cao vai trò của nghĩa, kết hợp nhân với nghĩa thành phạm trù nhân nghĩa. Xuất phát từ đó, ông vận dụng nhân nghĩa vào công việc chính trị của nhà cầm quyền hình thành nên tư tưởng nhân chính với những nội dung cơ bản: xây dựng đường lối chính trị nhân nghĩa, hoàn thiện đạo đức vua quan, đề cao vai trò của dân theo tinh thần dân bản, dưỡng dân gắn liền với giáo hóa dân, cùng với những quan điểm về kinh tế, chiến tranh,… Tư tưởng ấy chính là tâm điểm của toàn bộ triết học Mạnh Tử nói chung và học thuyết chính trị - xã hội của ông nói riêng.
Đọc thêm »

Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2013

Tư Tưởng Đạo Gia - Phần 3

 Tư Tưởng Đạo Gia
Lê Anh Minh dịch
-----
Phần 3

Tu dưỡng



8. TU LUYỆN  修 煉  – DƯỠNG THÂN  養 身
159. Tâm giả, nhất thân chi chủ thần chi soái dã, tĩnh nhi sinh huệ hĩ, động tắc sinh hôn hĩ. Học đạo chi sơ, tại vu phóng tâm ly cảnh, nhập vu hư vô tắc hợp vu đạo yên. [Đạo Xu, Tọa Vong thiên thượng]
Đọc thêm »

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN (Chương cuối)

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN (Chương cuối)
(Văn Tiến Dũng)

Toàn thắng

Lịch sử có những khi lặp lại trong quá trình phát triển. Cũng như ông cha ta trong đêm trước những cuộc tổng công kích chiến lược cuối cùng chống ngoại xâm, các chiến sĩ ta trên mặt trận Sài Gòn đêm 29 rạng sáng 30-4 sục sôi khí thế quyết thắng thần tốc. Trong giờ phút thiêng liêng này, trong ngày cuối cùng này của thời hạn giải phóng Sài Gòn do Bộ Chính trị ấn định, các chiến sĩ viết trên mũ, trên tay, trên báng súng lời hịch bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!
Tiếng súng ầm vang toàn mặt trận. Nhìn những chớp sáng từ các cánh quân ta đang tiến, những ánh lửa hắt lên từ các căn cứ địch quanh Sài Gòn bốc cháy, mọi người đã thấy hửng đông của ngày toàn thắng đang đến. Đồng chí Lê Ngọc Hiền đang phiên trực chỉ huy nghe điện từ các đơn vị báo về: mũi tiến sâu nhất trong đêm của Quân đoàn 3 đã tới Bà Quẹo; của Quân đoàn 1 đã tiến sát Lái Thiêu của Quân đoàn 2 tới sát cầu xa lộ sông Đồng Nai; của Quân đoàn 4 là vùng ven Biên Hoà; của Đoàn 232 là vùng Bà Hom. Như vậy các mũi đột kích của ta chỉ còn cách trung tâm Sài Gòn một cự ly ngắn từ 10 đến 20km.
Đọc thêm »

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN (Chương 16)

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN (Chương 16)
(Văn Tiến Dũng)

Tiến vào Sài Gòn

Sau khi đã hoàn thành mọi công tác tổ chức hiệp đồng giữa các hướng, các quân chủng, binh chủng, chúng tôi sắp xếp lại Bộ chỉ huy chiến dịch thành hai bộ phận: tôi và đồng chí Trần Văn Trà đi với Sở chỉ huy tiền phương để xuống sát các hướng quan trọng, nắm chắc tình hình kịp thời và tiện chỉ huy; các đồng chí Lê Đức Thọ và Phạm Hùng ở lại Sở chỉ huy cơ bản để nắm toàn diện các vấn đề quân sự, chính trị, ngoại giao có liên quan đến chiến dịch và giải quyết những vấn đề chung của chiến trường B.2.
Lúc này một vấn đề còn làm cho chúng tôi băn khoăn là việc triển khai trận địa pháo ở Nhơn Trạch để khống chế sân bay Tân Sơn Nhất. Sân bay Biên Hoà thì đã bị trận địa pháo của ta ở Hiếu Liêm khống chế, địch phải di chuyển máy bay về sân bay Tân Sơn Nhất và sân bay Bình Thuỷ (ở Cần Thơ). Như vậy là ta đã rút ngắn tầm hoạt động của máy bay địch lùi về phía nam 150km nếu chúng cất cánh từ Bình Thuỷ. Nhưng tại sân bay Tân Sơn Nhất còn dang để đủ loại máy bay mà địch có thể từ đây gây thêm tội ác và cũng từ đây máy bay vận tải các loại đang nhộn nhịp không ngớt chở những tên đầu sỏ Mỹ, nguỵ tháo chạy ra nước ngoài.
Đọc thêm »

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN (Chương 15)

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN (Chương 15)
(Văn Tiến Dũng)

Giờ tàn của địch

Trong quá trình cuộc tổng tiến công chiến lược, Đảng ta theo dõi rất sát sự suy yếu của địch, phát hiện kịp thời những biểu hiện tan rã của chúng để tích cực tạo thời cơ và kịp thời tận dụng thời cơ. Đánh đúng thời cơ thì lực lượng nhỏ cũng thành sức mạnh lớn, lực lượng lớn sẽ thành sức mạnh lớn hơn rất nhiều. Thời cơ chính là lực lượng và là sức mạnh.
So sánh lực lượng quân sự và tình thế chính trị chuyển biến đưa đến một bước ngoặt hoàn toàn bất lợi cho địch. Rốcpheolơ, Phó Tổng thống Mỹ, ngay từ ngày 2 tháng 4 đã phải thú nhận: “Đã quá muộn để có thể làm bất cứ việc gì nhằm lật ngược tình thế”. Nhưng ngoan cố và xảo quyệt vốn là bản chất của đế quốc Mỹ và bọn tay sai. Bọn cuồng chiến Mỹ – nguỵ vẫn còn cố sức bày mưu lập kế hòng cứu vãn tình hình, ngăn chặn “một trận Oatéclô thứ 2″ có thể chôn vùi uy danh của tên trùm sỏ đế quốc Mỹ.
Đọc thêm »

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN (Chương 14)

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN (Chương 14)
(Văn Tiến Dũng)

Táo bạo, bất ngờ, chiến thắng

Những ngày còn ở Tây Nguyên, khi được biết Bộ Chính trị đã hạ quyết tâm đánh vào Sài Gòn trước mùa mưa với tư tưởng chỉ đạo “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, chúng tôi bắt đẩu suy nghĩ về cách đánh Sài Gòn.
Lúc đó tuy chưa nắm được tình hình thật cụ thể về địch, về địa hình, về tổ chức và phong trào cách mạng trong thành phố nhưng trên cơ sở nhiệm vụ đã biết, những vấn đề cần thiết đã sơ bộ chuẩn bị những kinh nghiệm đã được rút ra, trước sự rối loạn chiến lược và suy sụp tinh thần của địch, chúng tôi cố hình dung ra một cách đánh có thể tựa như cách đánh Buôn Ma Thuột không, nhưng chắc chắn trong điều kiện mới tình hình sẽ phức tạp hơn, quy mô chiến dịch sẽ lớn hơn đòi hỏi một trình độ tổ chức cao hơn. Do vai trò quyết định của chiến dịch đối với cuộc chiến tranh cách mạng, do sự thay đổi về so sánh lực lượng giữa ta và địch, do những yếu tố mới nảy ra cho nên công tác chuẩn bị sẽ phải làm nhiều mặt và vô cùng khẩn trương, nhất là công tác tổ chức chỉ huy, tổ chức hiệp đồng mọi lực lượng tham gia tiến công phải thật chặt chẽ thì mới bảo đảm chắc thắng. Tất nhiên lần này đánh vào Sài Gòn không phải cứ rập khuôn máy móc mà nghệ thuật phải phát triển hơn, sáng tạo hơn. Nhưng sáng tạo như thế nào, phát triển như thế nào, tổ chức ra làm sao thì còn phải căn cứ vào nhiều mặt cụ thể của tình hình mới quyết định được.
Đọc thêm »

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN (Chương 13)

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN (Chương 13)
(Văn Tiến Dũng)

Thế trận đang hình thành

Sài Gòn – Gia Định là một thành phố lớn với ba triệu rưởi dân, rộng 1.845km vuông kể cả các quận ngoại thành, có nhiều nhà cao, kiên cố, kiến trúc tổng hợp khá phức tạp. Đây là nơi tập trung các cơ quan đầu não của nguỵ quân nguỵ quyền, các kho tàng và căn cứ hậu cần quan trọng, là một trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế quan trọng của địch, là sào huyệt cuối cùng của chúng.
Địa hình Sài Gòn khá phức tạp. Ở hướng nam thành phố, sông rạch chằng chịt, bưng sình nhiều. Hướng tây nam cũng có nhiều sình lầy, sát vùng ven thì đất cao, đi lại tốt Hướng bắc và tây bắc, nhất là hướng đông có nhiều cầu lớn, đẫn vào thành phố như: cầu Bông, cầu Sáng, cầu Bình Phước, cầu Bình Triệu, cầu Ghềnh, cầu xa lộ sông Đồng Nai, cầu xa lộ sông Sài Gòn ở các cầu quan trọng đó có tin địch đã có kế hoạch đặt mìn sẵn sàng đánh sập hòng ngăn bước tiến của quân ta. Không nhanh chóng chiếm được các cầu này thì bộ đội xe tăng, pháo binh và các binh khí kỹ thuật nặng của ta khó vào được Sài Gòn. Ở đây, từ giữa tháng 5 bắt đầu mùa mưa, các binh đoàn lớn lúc đó vận động sẽ gặp nhiều trở ngại nếu thoát ly các trục đường.
Đọc thêm »

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN (Chương 12)

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN (Chương 12)
(Văn Tiến Dũng)

Chiến dịch mang tên Bác
Trưa ngày 3 tháng 4, cách Bù Gia Mập quãng 50km về phía bắc, chúng tôi gặp đồng chí Thượng tá Mai Văn Phúc (Tư Phúc), Phó Cục trưởng Cục Hậu cần Miền ra đón. Đứng trên đỉnh đồi thông lưa thưa chung quanh còn nhiều vết tích của những trận đánh ác liệt “vượt biên” của Mỹ năm 1970, chúng tôi tay bắt mặt mừng, niềm vui trong từng khóe mắt. Chúng tôi cảm động vì đây là lần đầu được đặt chân lên đất Nam Bộ, miền đất kiên cường, tiền tuyến anh hùng ở xa Trung ương, mảnh đất thành đồng mà Bác Hồ luôn nhớ, luôn thương và Bác đã chỉ thị cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cống hiến tất cả cho sự nghiệp giải phóng miền đất Nam Bộ này. Chúng tôi đứng nhìn cảnh vật chung quanh. Xin kính chào miền Nam đi trước về sau, chiến trường gian khổ của Tổ quốc, kính chào tất cả các đồng chí chiến sĩ và đồng bào Nam Bộ đã giữ vững gan vàng dạ sắt suốt mấy chục năm trời liên tục chống chọi với những kẻ thù độc ác và giàu mạnh nhất, nêu lên một tàm gương bất khuất, lạc quan cách mạng và liên tục tiến công.
Đọc thêm »

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN (Chương 11)

ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN (Chương 11)
(Văn Tiến Dũng)

Thần tốc

Nếu bản thân hoạt động chiến tranh đã là sự đấu tranh quyết liệt, một mất một còn thì trận quyết chiến chiến lược cuối cùng bao giờ cũng là đỉnh cao của sự đọ sức giữa hai bên và là sự nỗ lực tột cùng của hai bên từ sự chỉ đạo đến hoạt động thực tiễn.
Sáng ngày 31 tháng 3, Bộ Chính trị họp nghe Quân uỷ Trung ương báo cáo tình hình phát triển các cuộc tiến công của quân ta trong ba tuần qua, đặc biệt trong máy ngày gần đây. Bộ Chính trị nhất trí nhận định rằng: tiếp theo thắng lợi của ta ở Khu 9 và miền Đông Nam Bộ giải phóng tỉnh Phước Long, với thắng lợí to lớn trên chiến trường Tây Nguyên, cuộc tổng tiến công chiến lược của ta thực tế đã bắt đầu và trong một thời gian rất ngắn đã giành được những thắng lợi cực kỳ to lớn.
Đọc thêm »

TRAO ĐỔI LIÊN KẾT

TRAO ĐỔI LIÊN KẾT

Mình sẽ rất vui khi được trao đổi link liên kết với tất cả các bạn. Hãy để lại lời nhắn về yêu cầu liên kết bên dưới và add đường link của mình trên Web/Blog của bạn. Hàn Phi | Cỏ Lấm Bụi Đường sẽ add lại trang của bạn khi online!


Điều kiện trao đổi:

- Không trao đổi với các website/Blog chứa nội dung liên quan đến: Chính trị - Sắc tộc – Tôn giáo – Nội dung người lớn!
- Không phân biệt thứ hạng cao hay thấp trên Google – Alexa!
- Trân trọng sự trao đổi cùng nhau, nhằm phát triển dài lâu!
Đọc thêm »

6. Nguyên nhân của sự hưng thịnh và suy vi của bách gia chư tử

Bách Gia Chư Tử
Thảo Đường Cư Sĩ Trần Văn Hải Minh
biên soạn

-----
Phần Một: 
Tổng luận về Bách Gia Chư Tử (6)

6. - Nguyên nhân của sự hưng thịnh và suy vi của bách gia chư tử 
 
Hình minh họa
Học thuyết của Chư Tử hưng thạnh vào cuối thời Xuân Thu (551 trước T.L.) cho đến thời Chiến Quốc thì phát triển rất mạnh, rồi đến thời Tây Hán (206 trước T.L.) thì suy vi lần lần. Sự hưng thạnh và suy vi ấy đều có nguyên nhân, xét về bản thân của các ngành học thuyết ấy, đó là "Nhơn", mà xét về hoàn cảnh của thời ấy, đó là "Duyên".

Sự vật phát sinh và tiêu diệt đều có cái "nhơn" nội tại, và cái "duyên" của ngoại giới (hoàn cảnh bên ngoài) ngành học thuật, tư tưởng, cũng không thoát khỏi thông lệ ấy.

Vì như loài cỏ cây, sở dĩ mọc mầm và lớn lên được, trước hết là nhờ hạt nẩy mầm, đó là cái "nhơn" nội tại, rồi kế đến là phải có đất nước, khí ấm mặt trời bên ngoài, tạo thành hoàn cảnh thuận tiện cho cái nhơn ấy nẩy nở và hoàn cảnh bên ngoài ấy gọi là "duyên".

Sách Hán Thơ Nghệ văn Chí có viết: "Phái Nho gia, xuất thân từ quan Tư Đồ". Phái Đạo gia xuất thân từ Sử quan ; phái Âm dương xuất thân từ quan Nghi, Hoà ; phái Pháp gia xuất thân từ Lý quan. Phái Danh gia xuất thân từ Lễ quan ; Mặc gia xuất thân từ chức quan giữ Thanh miếu ; Tung hoành gia xuất thân từ quan đi đó đi đây, Tạp gia xuất thân từ Nghị quan; Nông gia xuất thân từ quan Nông tắc ; Tiểu thuyết gia thì xuất thân từ Ty quan, đó là thuyết Chư Tử xuất thân từ vua quan.
Đọc thêm »

Thứ Bảy, 2 tháng 2, 2013

Trà xanh trị viêm họng

Trà xanh trị viêm họng

 

Hình minh họa
Trà xanh chứa 20% tanin có khả năng sát khuẩn mạnh, dùng để súc họng chữa viêm họng mạn tính. Đặc biệt, thành phần này còn có tác dụng như vitamin P, rất hiệu quả trong điều trị các bệnh herpes gây viêm loét họng và miệng.

Bài thuốc với trà xanh chữa viêm họng thông thường gồm: trà xanh 100 g, cam thảo 10 g, nước 100 ml. Đun trà và cam thảo ngập nước trong nửa giờ, sau đó lọc chắt lấy nước một. Tiếp tục cho thêm nước vào phần bã và đun thêm nửa giờ, rồi chắt lọc nước hai. Gộp cả hai nước, tiếp tục đun cho đến khi chỉ còn khoảng 100 ml là dùng được. Cần uống 4 lần/ngày, mỗi lần 5-10 ml. Mỗi đợt điều trị cần kéo dài từ 3-5 ngày sẽ có hiệu quả.
Đọc thêm »

Thứ Sáu, 1 tháng 2, 2013

5. Sở trường và sở đoản của mười môn phái

Bách Gia Chư Tử
Thảo Đường Cư Sĩ Trần Văn Hải Minh
biên soạn

-----
Phần Một: 
Tổng luận về Bách Gia Chư Tử (5)

5. - Sở trường và sở đoản của mười môn phái

Hình minh họa
Trong thiên hạ, Trang Tử đã phê bình học thuyết của Chư Tử, nhưng trừ Quan Doãn, Lão Đam và Trang Chu, vì đó là người của môn phái mình.

Trang Tử đã nói mỗi phái đều có sở trường và sở đoản. Ông phê phán Mặc Địch và Cầm hoạt Ly là học theo Đạo thuật đời xưa mà "không xa xí cho người đời sau, không khuất phục vạn vật, sống theo mẫu mực để chuẩn bị cho những cơn đói rét, thiếu thốn". Đó là chỗ đáng khen.

Nhưng Mặc Tử đã thái quá, chí nhục, quá tiết kiệm, bỏ cả lễ nhạc thời xưa, lúc sống không ca hát, lúc chết không tang phục, tẩn liệm không quách mà chỉ có quan, bắt người phải theo như thế, e rằng chẳng biết thương người, mà chính mình cũng làm như thế là chẳng biết thương mình.

Khi còn sống cần cù làm việc, đến lúc chết tang lễ sơ sài, như thế làm cho người lo lắng, buồn rầu, cái hạnh như thế rất khó làm theo, e rằng không thể làm cái đạo của bực thánh nhân được.
Đọc thêm »

Tư Tưởng Đạo Gia - Phần2

Tư Tưởng Đạo Gia
Lê Anh Minh dịch
-----
Phần 2

Lập thân


4. TUÂN ĐẠO – QUÝ ĐỨC
075. Đại Đạo phiếm hề, kỳ khả tả hữu. Vạn vật thị chi nhi sinh nhi bất tử. Công thành bất danh hữu. Ái dưỡng vạn vật nhi bất vi chủ, thường vô dục khả danh ư tiểu; vạn vật qui chi nhi bất vi chủ, khả danh ư đại. Thị dĩ thánh nhân, chung bất vi đại, cố năng thành kỳ đại. [Đạo Đức Kinh, chương 34]
Đọc thêm »