This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Hai, 24 tháng 12, 2012

Ai Cập Huyền Bí (Chương 4)


Ai Cập Huyền Bí
(Tác giả: Paul Brunton)

Chương 4: Một Đêm Trong Kim Tự Tháp

Kim tự Tháp
Tôi sắp sửa đuổi theo một hoạt động lạ lùng nhất của đời tôi, tuy lạ lùng nhưng vẫn trong sự thầm lặng. Tôi có ý định ở lại một đêm trong Kim Tự Tháp và ngồi thức suốt đêm trong Vương cung trong khi đêm tối dày đặc bao phủ nền trời Châu Phi.
Tôi đã ở một đêm trong ngôi kiến trúc kỳ dị nhất mà con người đã từng dựng lên trên bầu hành tinh của chúng ta.
Thật không phải dễ gì mà lọt được vào lúc ban đêm trong Kim Tự Tháp. Tuy mọi người đều có thể viếng ngọn tháp cổ này, nhưng nó không phải là tài sản của công chúng. Nó là tài sản của Chánh Phủ Ai Cập. Không phải ai cũng có thể lọt được vào trong đó và chiếm được một gian phòng trống để ngủ một đêm, chẳng khác như xâm nhập gia cư của người khác và nằm trong phòng ngủ tốt nhất của họ. Mỗi khi một du khách muốn vào trong Kim Tự Tháp, y phải mua một tấm thẻ của Sở Bảo Trì Cổ Tích với giá năm đồng. Tôi bèn đến đó và xin phép ở lại một đêm trong Kim Tự Tháp lớn.
Đọc thêm »

Ai Cập Huyền Bí (Chương 3)


Ai Cập Huyền Bí
(Tác giả: Paul Brunton)

Chương 3: Ngọn Kim Tự Tháp

Kim tự Tháp
Những vị vua Ai Cập Pharaon nay đã hóa ra người thiên cổ, nhưng ngày nay họ còn để lại cho chúng ta những Kim Tự Tháp kiến trúc hùng vĩ, kiên cố dựng trên một vùng cao nguyên nhô giữa đồng cát. Nếu nước cổ Ai Cập vẫn còn hấp dẫn sự chú ý và thích thú của thế giới hiện đại, thì trước hết là nhờ bởi những ngọn tháp này làm bằng chứng của thời đại cổ xưa ấy. Không có một đế quốc Đông Phương nào đã biệt tích mà để lại cho hậu thế những kỳ quan vĩ đại và lạ lùng như thế.
Triết gia Pline khẳng định rằng uy danh của các Kim Tự Tháp Ai Cập sẽ vang dội đến chỗ tận cùng của thế giới. Kể từ ấy đã có hai nghìn năm qua, những thời gian không hề xóa mờ cái uy tín đó. Gần đây tôi có viết thư vài người bạn sống một cuộc đời rất ẩn dật tại một vùng hẻo lánh ở dưới tậncùng miền nam Ấn Độ. Những người này có lẽ không bao giờ đi xa hơn dãy đồi ở vùng chung quanh làng họ Ở, họ không hề chọc phá thế gian và thế gian cũng không hề làm phiền họ. Tôi cho họ biết về những công việc sưu tầm mà tôi đang theo đuổi ở ngọn Kim Tự Tháp lớn. Tôi không cần giải thích đó là cái gì và nó ở tại đâu, vì tôi biết chắc họ cũng biết rõ. Bức thư trả lời của họ đã xác nhận sự tin tưởng của tôi. Thật vậy những người Ấn Độ chất phát này đã biết rõ đó là cái gì. Uy danh của những Kim Tự Tháp đã vang dội xa hơn là hồi thời đại của triết gia Pline.
Đọc thêm »

Ai Cập Huyền Bí (Chương 2)


Ai Cập Huyền Bí
(Tác giả: Paul Brunton)

Chương 2: Thần Canh Giữ Sa Mạc

Kim tự Tháp
Các bầu tinh tú vẫn đua nhau chớp trên nền trời xanh thẫm con trăng thượng tuần vẫn tiếp tục chói rạng trên đỉnh đầu chúng tôi, thần tượng Sphinx có vẻ biến đổi màu sắc vẫn vươn mình một cách hùng dũng dưới ánh trăng bạc. Khi tôi day đầu qua bên trái là nơi mà trong linh ảnh vừa rồi hiện ra trong trí tôi, tôi đã nhìn thấy biển cả gầm thét như sấm động và nuốt trôi cả vùng đất liền.
Một con dơi, có lẽ lầm tưởng tôi là phiến đá vô tri bất động như cái bối cảnh chung quanh, vỗ đôi cánh đụng vào đầu tôi rồi bay mất, làm cho tôi có cái cảm giác ghê tởm và rờn rợn người nơi sương xuống. Tôi nghĩ rằng có lẽ nó vừa mới chui ra từ trong một cái nấm mồ chôn xác ướp mà người ta vừa khai quật ở vùng gần bên.
Đọc thêm »

Ai Cập Huyền Bí (Chương 1)

Ai Cập Huyền Bí
(Tác giả: Paul Brunton)
Chương 1: Một Đêm Với Thần Tượng Sphinx


Người du khách cuối cùng đã về; người hướng dẫn viên cuối cùng đã lập lại đến cả ngàn lần những điều hiểu biết của mình để giới thiệu cho du khách ngoại quốc về xứ cổ Ai Cập. Một bầy lừa mệt mỏi và đàn lạc đà bất kham đã lần bước chậm chạp trên đường về, với những du khách cuối cùng trong ngày.
Trong khung cảnh xứ Ai Cập, bóng hoàng hôn có một vẻ đẹp siêu nhiên và khó quên. Mọi vật đều khoe màu đổi sắc, giữa khoảng trời đất bao la nổi bật lên những khoảng tương phản lạ lùng.
Đọc thêm »

Chủ Nhật, 23 tháng 12, 2012

Ký ức mùa thu


KÍ ỨC MÙA THU

(Phạm Ngọc Thái)


Mùa thu khuấy lên bao kí ức
Xác thời gian trôi trên tóc em
Em đi trong trăng mùa thu thổi gió
Lá vàng rơi mênh mông
Em đi qua mùa thu không gian
Trăng mặc đồi con gái
Nhớ đến lâu cái hương con gái
Nó thơm say và rất nhẹ nhàng.
Đường dạo ấy trên đồi trăng sáng
Đêm chia tay em dúi cả vào anh
Để bóng lạc suốt đêm ngoài phố
Mây lãng phiêu mãi không về.
Giờ đây chắc trên đồi thông đó
Gió vu vi và trăng vu vơ
Em đi trong trăng mùa thu thổi gió
Mùa thu lang thang chẳng bến bờ...

Đọc thêm »

Thứ Năm, 20 tháng 12, 2012

Chùm thơ Đường : Lý Bạch , Đỗ Phủ và Trương Cửu Linh


Chùm thơ Đường : Lý Bạch , Đỗ Phủ và Trương Cửu Linh
(Trương Thái Du)

Thi tiên Lý Bạch
1. Khúc thanh bình
(Lý Bạch)

Tưởng mây là áo mặt là hoa
Gió xuân sương sớm níu hiên nhà
Nếu chẳng gặp người trên Quần Ngọc
Thì hẹn Dao Đài dưới ánh Nga.

Một đóa hồng tươi, ngát lệ sương
Núi Vu thần nữ uổng buồn vương
Hỏi trong cung Hán ai nào sánh
Thương Triệu ái phi cậy phấn hương.

Người đẹp cùng vui với chúa hoa
Vua ngắm cười hoài, mãi kiêu sa
Khỏa đi muôn hận xuân đưa gió
Tựa song đình bắc thưởng trầm xa.

(Dịch năm 1999)

Thanh bình điệu
Âm Hán – Việt

Vân tưởng y thường hoa tưởng dung
Xuân phong phất hạm lộ hoa nùng
Nhược phi Quần Ngọc sơn đầu kiến
Hội hướng Dao Đài nguyệt hạ phùng

Nhất chi hồng diễm lộ ngưng hương
Vân vũ Vu sơn uổng đoạn trường
Tá vấn Hán cung thùy đắc tự
Khả lân Phi Yến ỷ tân trang

Danh hoa khuynh quốc lưỡng tương hoan
Trường đắc quân vương đới tiếu khan
Giải thích xuân phong vô hạn hận
Trầm hương đình bắc ỷ lan can
Đọc thêm »

Thứ Tư, 19 tháng 12, 2012

5 Việc Của Đời Người

5 Việc Của Đời Người

Trong một đời người,những việc mà chúng ta cần làm rất nhiều, nhưng không thể biến tất cả chúng thành hiện thực. Nhưng tôi cho rằng làm việc không nên tham nhiều, chỉ cần làm tốt 5 việc là đủ:

Việc thứ nhất: Đọc kỹ một cuốn sách. Sách hay có thể làm rung động trái tim của bạn mỗi lần chỉ một cuốn là đủ.
Việc thứ 2: Nắm vững một nghề. Giỏi một nghề sẽ làm cho cuộc đời của bạn thiết thực hơn và cũng đủ để nuôi sống gia đình bạn. Đừng xem nhẹ những việc nhỏ mọn. Nhỏ nhưng độc đáo cũng trở thành có giá trị.
Việc thứ 3: Có một gia đình hòa thuận. Người xưa nói: "tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. "Với số đông trị quốc bình thiên hạ hơi xa xôi, nhưng xây dựng một gia đình hòa thuận là có thể làm được và hiện thực hơn rất nhiều. Gia đình là hình ảnh thu nhỏ của xã hội, nếu gia đình bạn là một thành viên tốt thì ngoài xã hội bạn không phải là người quá xấu được.
Đọc thêm »

Nếu tôi biết rằng…

Nếu tôi biết rằng…

Nếu tôi biết rằng đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy bạn ngủ say, tôi sẽ giữ bạn thật chặt và nguyện cầu Thượng Đế giữ gìn tâm hồn bạn.
Nếu tôi biết rằng đó là lần cuối cùng tôi thấy bạn bước ra ngoài, tôi sẽ ôm chặt lấy bạn, hôn bạn thật kêu và gọi bạn quay về.
Nếu tôi biết đó là lần cuối cùng tôi nghe thấy tên bạn được xướng lên trong lời ca tụng – chúc mừng, tôi sẽ lưu lại từng lời nói, hành động của bạn trong những cuộn băng video và sẽ xem đi xem lại chúng nhiều ngày.
Nếu tôi biết rằng đó là lần cuối cùng để tôi có thể dành một hoặc hai phút còn sót lại, tôi sẽ dừng lại và nói “Mình yêu thương, quý bạn lắm!”, dù bạn ra vẻ bạn dư biết điều đó.
Ngày mai sẽ tạo nên sự quên lãng, đó là một điều chắc chắn; và chúng ta sẽ không bao giờ có cơ hội thứ hai để làm đúng mọi việc.
Có nhiều cách để nói lời yêu thương và nhiều cơ hội để chứng tỏ rằng chúng ta có thể làm được tất cả mọi việc.
Chỉ trong trường hợp tôi trở nên lầm lẫn và ngày hôm nay là tất cả những gì tôi có, tôi sẽ nói rằng tôi yêu thương, quý mến bạn đến dường nào.
Tôi hy vọng sẽ không bao giờ quên rằng ngày mai đã được hứa dành cho một người và ngày hôm nay có thể là lần cuối cùng bạn có cơ hội được ôm người bạn yêu thương thật chặt vào lòng.
Nếu bạn đang chờ đến ngày mai, tại sao lại không thực hiện mọi thứ ngay trong hôm nay? Bởi nếu ngày mai không bao giờ tới, bạn sẽ phải hối tiếc rất nhiều vì đã không dành những phút giây hiếm hoi còn lại để sẻ chia một nụ cười, một cái ôm hay một nụ hôn và rằng bạn đã quá bận rộn để tặng ban những gì có thể giúp ước mơ của một người thành sự thật.
Hãy giữ những người mà bạn thật sự yêu thương trong vòng tay của mình, thì thầm vào tai họ, nói với họ rằng bạn yêu thương họ nhiều như thế nào và rằng sẽ luôn giữ hình ảnh thân yêu của họ.
Hãy dành thời gian để nói “Mình xin lỗi!”, “Tha thứ cho mình nhé!”, “Cảm ơn”, hay “Không sao! Mọi việc sẽ ổn cả thôi!”. Và nếu ngày mai không bao giờ đến, bạn sẽ không phải hối tiếc về ngày hôm nay một khi bạn đã nói những lời trên.
Hãy biết xin lỗi và bắt đầu lại và nói với những người thương yêu bạn rằng bạn cũng yêu thương họ rất nhiều!
                                                                                        (Khuyết danh)

Địa đàng ở phương Đông (Phần 2)


Địa đàng ở phương Đông (Phần 2)

(Stephen Oppenheimer)


"Vườn Địa Đàng" bởi Lucas Cranach der Ältere.
Nếu ta chấp nhận bằng chứng theo thống kê về mối quan hệ xuyên lục địa trong các thần thoại thì niên đại của những văn bản thần thoại Á-Âu đầu tiên trở nên rất quan trọng. Chúng ta rất may mắn bởi người Sumer và người Babylon rất mực cần mẫn trong việc ghi chép các motive này vào các bảng đất sét và con dấu hình trụ. Dấu niên đại bắt nguồn từ một nhu cầu như thế cho thấy rằng thần thoại, với những hàm nghĩa tôn giáo của nó, thuộc về những văn bản ghi chép đầu tiên vào khoảng thiên niên kỷ thứ 3 trước công nguyên. Bởi vì trong đa số trường hợp, kết cấu và nội dung của thần thoại Lưỡng Hà cho thấy rằng chúng bắt nguồn từ những dị bản phương Đông cổ hơn, nên chúng ta có thể giả định rằng hướng truyền bá là từ Đông sang Tây, và niên đại của sự truyền bá này có lẽ còn sớm hơn cả đầu thiên niên kỷ thứ 3 trước công nguyên. Nghĩa là những mối liên kết văn hóa Đông Tây có thể lâu hơn 5.000 năm. Những mối liên kết văn hóa đó chỉ có thể xảy ra nếu như cư dân ở vùng Đông Nam Á lưu giữ các câu chuyện, và nếu họ có khả năng đi đến Lưỡng Hà và Ấn Độ để truyền bá những câu chuyện đó.
Đọc thêm »

Thứ Ba, 18 tháng 12, 2012

Địa đàng ở phương Đông (Phần 1)


Địa đàng ở phương Đông (Phần 1)

(Stephen Oppenheimer)


"Vườn Địa Đàng" bởi Lucas Cranach der Ältere.
“Ồ, thì phương Đông là phương Đông, còn phương Tây là phương Tây và sẽ chẳng bao giờ chúng gặp nhau được. Họa chăng đến khi nào Đất và Trời đứng trước tòa phán xét tối cao của thượng đế…” Những lời này của văn hào Anh Rudyard Kipling (1865-1936) vang vọng đến thời đại của chúng ta từ thời kỳ thuộc địa. Các ngành khảo cổ học, di truyền học và ngôn ngữ học dường như dã chứng minh rằng Kipling đúng hơn chín mươi phần trăm: Đây là một đường ranh hiển nhiên, sâu thẳm và lâu đời phân cách miền Viễn đông với phần còn lại của đại lục Á - Âu. Câu chuyện của tôi tập trung vào năm đến mười phần trăm sự sự giao thoa này. Bằng cách sử dụng những chứng cớ từ ba ngành học này ở phần I, tôi đã đề xuất rằng có một mối liên kết giữa cư dân Đông Nam Á tiền sử với phần còn lại của thế giới. Sau thời kỳ Băng hà, cư dân Đông Nam Á bị buộc phải trốn chạy về phương Tây, Lưỡng Hà và có thể còn xa hơn nữa, và ảnh hưởng của họ đến phương Tây lớn hơn nhiều so với số dân của họ. Tôi cũng đã chứng minh ở phần II rằng bên cạnh những bằng chứng về quá trình di cư tự nhiên của cư dân Đông Nam Á, chúng ta còn có thể nhận ra những mối liên kết văn hóa ngược trở lại với lãnh thổ này trong nhiều câu chuyện cổ ở phương Tây và các câu chuyện khác nữa. Chỉ trong vòng 2.000 năm qua đã có một dòng chảy văn hóa ngược chiều - từ Tây sang Đông.
Tôi không đòi hỏi người ta chấp nhận mà không nghi vấn những dấu hiệu văn hóa dân gian hay di truyền và khảo cổ tôi đã mô tả trong cuốn sách này. Có quá ít bằng chứng về di truyền và khảo cổ được tìm thấy và cũng chẳng biết là niên đại của chúng đã chính xác hay chưa. Còn nhiều công việc cần được tiến hành. Điều mà tôi đề xuất là cư dân Đông Nam Á tiền sử xứng đáng được chúng ta xem xét một cách thấu đáo hơn, không phải bằng cái nhìn “thiển cận” (theo cách nói của nhà khảo cổ học Pamela Swadling) về những cư dân tiền sử của vùng này.
Lấp đầy những khoảng cách
Khảo cổ học, tuy có vẻ ngoài dường như chính xác, lại có một mắc mứu đặc biệt về những gián đoạn trong tính liên tục do sự dâng cao của mực nước biển gây nên, đặc biệt là cách đây 8.000 năm trong suốt thời kỳ Đồ đá mới. Những gián đoạn này đã đưa đến một bức tranh sai lệch về độ dài thời gian và những đường chân trời giả tạo. Những gián đoạn đáng kể nhất nằm vào giai đoạn Đồ đá mới ở Trung Quốc và Đông Nam Á; những gián đoạn ở Trung Quốc mãi sau này người ta mới nhìn nhận, còn những gián đoạn ở Đông Nam Á thì hầu như bị quên lãng.
Toàn bộ một kỷ nguyên trong tiền sử Đông Nam Á thế là đã bị đánh mất. Chẳng hạn, có một khái niệm mù mờ rằng một số dân cư thưa thớt của các bộ lạc săn bắn hái lượm đã xuất hiện ở nhiều nơi trên vùng đảo Đông Nam Á như ở Borneo cách đây từ 9.000 đến 3.500 năm, trong khi ở phương Đông, Tân Guinea (Indonesia), các bộ lạc còn đang hành nghề biển và làm vườn. Trái với cái nhìn nguyên thủy về khu vực ấy là bằng chứng về sự phát quang những khu rừng mênh mông ở vùng cao Sumer và Java cách đây 8.000 năm.
Tuy nhiên, như ta đã biết, nhà khảo cổ học Wilhelm Solheim có đề xuất một quan điểm thay thế rằng những cư dân đầu tiên của đảo Đông Nam Á vào thời gian này đã biết trồng củ, nuôi súc vật, thu hoạch cây trái và trở thành những chuyên gia trong nghề biển. Rất có thể họ đã nói thứ ngôn ngữ tiền thân của tiếng Austronesian nếu nguồn gốc Molluccan của motive chủng loại Polynesian được minh chứng là đúng. Họ có thể đã phát triển mạng lưới thương mại đường biển đến tận Nhật Bản và Hàn Quốc ở phía Bắc xa xôi cách đây 7.000 năm. Dấu vết của mạng lưới này vẫn còn rơi rớt lại đến ngày nay trong những tộc người du cư trên biển ở quần đảo Mã Lai. Họ hàng của họ - có lẽ nói các ngôn ngữ Austro-Asiatic (Úc-Á) - đã phân bố khắp đại lục Đông Nam Á và để lại những di chỉ của họ. Từ lâu đã có ý kiến cho rằng đây là những bộ lạc săn bắn hái lượm khá lạc hậu, nhưng thật ra, người Hoabinhians và Bacsonians đã phát triển kỹ thuật nông nghiệp như làm vườn, trồng lúa và làm đồ gốm.
Tôi đã dành rất nhiều chỗ trong phần I để tranh luận rằng những người Austronesia đầu tiên đã phân bố đến Thái Bình Dương khoảng hơn 6.000 năm trước. Việc này là có mục đích. Trong khi sự phân bố ở Thái Bình Dương không có liên quan trực tiếp đến sự truyền bá Đông - Tây thì vấn đề tính toán chính xác thời gian chính là nền tảng cho quan điểm quy ước về tiền sử Đông Nam Á. Nói bằng thuật ngữ đơn giản, lý thuyết hiện nay về “chuyến tàu tốc hành từ Trung Quốc đến quần đảo Polynesia” dựa vào một niên đại đến Thái Bình Dương muộn hơn, vào năm 1.500 trước Công nguyên. Nếu như con tàu này không chỉ chưa bao giờ đến gần Trung Quốc mà còn rời khỏi Đông Nam Á ngay sau trận hồng thủy cuối cùng thì ta hoàn toàn có lý do để cho rằng các nhà thám hiểm đã có khả năng đi thuyền về phía Tây cũng vào thời gian đó.
Cứ liệu khảo cổ học về những thành tựu tiền sử của phương Đông có nhiều khoảng trống hơn là sự kiện, ngoại trừ những mảnh sự kiện rời rạc gợi ý rằng chúng đã mất mát nhiều hơn người phương Tây tưởng. Một vài mảnh sự kiện sớm hơn - gồm cứ liệu về những thủy thủ ở Thái Bình Dương đã đến được đảo Solomon cách nay gần 30.000 năm, đồ sứ cổ của người Nhật có niên đại 12.500 trước, và những người miền núi Tân Guinea mà, như đã nói ở trên, đã biết tháo nước ở các đầm lầy để trồng khoai sọ cách nay 9.000 năm, và sự trồng lúa đã tồn tại từ xa xưa một cách đáng kinh ngạc ở quần đảo Mã Lai, điều này hẳn đã tiên báo sự lan truyền của nghề thủ công đến Ấn Độ. Sau đó ít lâu là trận hồng thủy thứ ba trong thiên niên kỷ thứ 8. Tiếp theo đó là một thời kỳ tương đối im ắng về cứ liệu khảo cổ, từ vùng Đông Nam Á ngập nước do nước biển dâng cao đến 500 mét trong 2.000 năm tiếp theo. Những ngoại lệ là một vài hang động sơ kỳ đồ đá mới có niên đại từ Borneo và quần đảo Philippin cùng với sự xuất hiện của khoáng chất obsidian trên duyên hải phía Đông của Borneo 6.000 năm trước, được trao đổi qua lại từ đảo Lou đến phương Đông cách hàng ngàn dặm biển, rất lâu trước khi những thủy thủ Austronesian đặt chân đến Borneo, chứ chưa nói gì đến đảo Lou.
Trên lục đại châu Á, từ cuối trận hồng thủy trở đi, chúng ta bắt đầu thấy những khu định cư thời kỳ Đồ đá “mới”, dọc theo vùng đảo phía Đông và Nam Trung Quốc và ở Việt Nam. Tuy nhiên những nhà khảo cổ Đông phương lão luyện đã quan sát kỹ lưỡng những lớp phù sa được tạo nên bởi lụt lội ở các vùng đầm lầy ven biển, và họ đã khám phá ra rằng những nền văn hóa của thời kỳ đồ đá đầu tiên đã có tại đó từ trước trận lụt. Khu định cư nông nghiệp ở Thái Lan và Việt Nam cũng xuất hiện từ thiên niên kỷ thứ 5 trước Công nguyên ở những nơi như Ban Chiang. Có lẽ những người đi khai hoang này đã từ bờ biển di cư vào trong đất liền khi trận lụt xẩy ra; dù sao đi nữa thì những vùng đất nông nghiệp Viễn Đông có niên đại từ thiên niên kỷ thứ 5 trước Công nguyên đã tiếp tục chế tạo đồ đồng vào khoảng thời gian đó như Trung Quốc và Cận Đông cổ đại - và hiển nhiên là độc lập với các nền văn minh này. Nền văn hóa thời kỳ kim loại của Việt Nam sau này đã chế tạo được những đồ vật tinh tế mang đi trao đổi khắp Đông Nam Á và cả vùng Melanesia xa xôi từ rất lâu trước khi có sự xuất hiện của nền văn hóa Đông Nam Á chịu ảnh hưởng của Ấn Độ. Nền văn hóa ngoại lai thời kỳ đồng thau 3.200 năm tuổi của Sanxingdui ở Trung Quốc còn có nhiều mối liên kết văn hóa với vùng đảo Đông Nam Á hơn là với phương Bắc.
Khi những mảnh rời của trò chơi ghép hình được xếp lại gần nhau nhiều hơn, một bức tranh trái ngược hiện ra trước mắt ta: những tiến bộ kỹ thuật lớn lao cuối kỷ Băng hà xuất hiện đồng thời trên khắp đại lục Âu-Á và lan đến tận Châu Đại Dương. Một giả thiết như thế xác nhận mối nghi vấn rằng những lộ trình cổ xưa của việc liên lạc liên lục địa ở phương Đông có thể có hiệu quả đáng kể hơn nhiều so với người ta nhìn nhận trước đây. Bức tranh di truyền học và ngôn ngữ học về những sự lan truyền của người Austronesian vào Melanesia và Australia xác nhận rằng sự lan truyền đầu tiên đã khởi phát từ Đông Nam Á vào một thời kỳ sớm hơn nhiều so với lập luận của những người ủng hộ thuyết “Chuyến tàu tốc hành năm 1500 trước Công nguyên đến Polynesia”.
Một tiến trình lũ lụt như thế diễn ra ở các vùng đầm lầy Sepik ở Bắc Tân Guinea cách nay hơn 6.000 năm; một lần nữa các nhà khảo cổ học địa phương đã đào bới bên dưới lớp phù sa và phát hiện ra những nền văn hóa với kỹ thuật vỏ sò đặc trưng Austronesia và những quả cau xuất hiện ở đó khoảng 6.000 năm trước chứ không phải là 3.500 năm như nhiều người tưởng. Thậm chí có lẽ chúng còn xuất hiện sớm hơn nhiều, nhưng tới nay thì các chứng cớ về điều đó đã bị chôn sâu dưới đáy biển. Điều này có thể giải thích cho việc đồ gốm Jomon 5.400 tuổi từ Nhật Bản đã tìm thấy tận phương Đông ở Melanesia. Dù nguyên nhân gì đi nữa thì cũng đã có một cuộc di cư và pha trộn cư dân to lớn quanh Vành đai Thái Bình Dương thuộc phương Tây trong và ngay sau trận hồng thủy. Hầu hết những chứng cứ về điều này lúc bấy giờ lại bị chìm ngập dưới mực nước biển cứ dần cao lên cho tới 5.500 năm trước.
Cách phương Tây hàng ngàn kilomét, nạn hồng thủy đã ảnh hưởng đến vịnh Ảrập như Sir Leonard Woolley đã tìm thấy cả trong văn bản lẫn trên thực tế, nhưng những người dân Lưỡng Hà của vùng Ubaidian do không có những khu rừng nhiệt đới dày đặt để ngăn lũ nên có thể đã di chuyển ngược lại hướng đi của lũ. Hậu quả là văn liệu của họ cho ta biết rằng họ đã ở lại vùng vịnh và cư xử như chủ nhà với các thương nhân và những người tị nạn lành nghề từ phương Đông sang. Như chúng ta đã thấy, tại ranh giới của nền văn hóa Ubaid 7.500 tuổi bị đọng dưới lớp bùn lũ lụt có những bộ sưu tập tương tự về đồ gốm và các đồ thủ công thời đồ đá mới, nối kết với nghề xe sợi và đánh cá, còn có cả những bức tượng nhỏ mang dáng vẻ phương Đông thần bí.
Đường mòn dẫn về phương Tây
Khó mà quan niệm rằng những thủy thủ và thương nhân đã dễ dàng đến Tây Nam Thái Bình Dương cách đây rất lâu mà không mạo hiểm đi về phương Tây dọc theo vành đai duyên hải phương Bắc an toàn của Ấn Độ Dương. Thì họ đã làm thế mà. Xét chứng cớ về sự di chuyển của các dân tộc về phía Tây, chúng ta thấy sự có mặt tự nhiên của dân tộc Mundaic ở Trung Ấn ở chính các vùng nơi việc trồng lúa đã xuất hiện đầu tiên, có thể là cách đây 7.000 năm. Họ có chung bộ gene và nhóm ngôn ngữ với người Môn-Khơme ở bán đảo Trung Ấn, những bộ tộc sống tách rời nhau hàng ngàn kilômet và hàng ngàn năm này đã chia xẻ với nhau những hiểu biết về văn hóa trồng lúa và nghề đồ đồng. Đây là một chứng cớ thuyết phục cho thấy họ đã mang theo một nền văn hóa có từ trước về phía Tây. Các nhà ngôn ngữ học đồng ý rằng sự phân hóa giữa các nhánh thuộc chủng tộc ngôn ngữ Austro-Asiatic đã xẩy ra từ xa xưa trong thời tiền sử.
Chúng ta còn tìm thấy những mối liên kết di truyền học và ngôn ngữ học giữa những người Austronesia làm thương mại và đi biển với những dân tộc Nam Ấn nào đó. Mặc dù các mối liên kết ngôn ngữ ít rõ ràng hơn ở phía Bắc nhưng những dấu hiệu di truyền học cổ đại rõ ràng là dẫn ta quay lại với vùng Đông Nam Á hải đảo. Có thể những vị du khách đầu tiên đến đây từ phương Đông cũng chính là những người “Naga” huyền thoại, họ đã mang nhiều gia vị và tục thờ thần rắn đến khu vực này. Có chứng cớ về việc du nhập ngôn ngữ Austronesia đến Ấn Độ: nhưng trong khi mối liên kết giữa tiếng nói của người Sume với tiếng nói của người Austronesian đã được đề xuất thì vấn đề này vẫn còn gây tranh cãi. Tuy nhiên, những liên kết di truyền học từ Đông Nam Á dọc theo các lộ trình thương mại xuyên qua Ấn Độ đến các Tiểu vương quốc Ảrập thống nhất và Lưỡng Hà và đến Địa Trung Hải đã để lộ một con đường rõ rệt của những đoàn người di trú nhỏ và có định hướng vào thời cổ đại.
Các vấn đề về niên đại của sự di trú
Trong khi con đường di truyền học và ngôn ngữ học từ Đông Nam Á đến phương Tây đã được xác định chắc chắn thì vấn đề chính đối với cả hai loại dấu chỉ này chính là niên đại các cuộc di cư của họ. Các nhà di truyền học và ngôn ngữ học lịch sử đều có thể ước đoán về niên đại của các nhánh hay các mắt xích trong cây gia phả của các đoàn người di trú. Nhưng họ không dễ gì khẳng định được các nhánh đó đã xuất hiện ở đâu và vào khi nào. Nói đơn giản hơn, bất kỳ một nhánh nào đó trong một gia hệ đều có thể xẩy ra trước hay sau cuộc di cư của gia hệ đó; không dễ gì nói chắc là trước hay sau. Đối với di truyền học về những cuộc di dân, cái khó của việc xác định niên đại là phải đưa ra cho được những ranh giới thời gian hàng ngàn năm.
Tuy nhiên, có một trường hợp đặc biệt, ấy là khi các thành viên mới trong một gia hệ được tìm thấy đúng vào hoặc sau một thời điểm của lộ trình di cư chứ không phải là trước đó. Điều này giúp xác định được niên đại của những cuộc di cư đầu tiên là cách đây bao lâu. Hiện tượng này lặp lại trong cái gọi là motive Polynesia. Nó chứng tỏ rằng, thay vì xác định những cuộc di chuyển gần đây của người Polynesia ra khỏi Trung Quốc, motive này xác định có một cuộc lan truyền sớm hơn nhiều của người Austronesian vào Tây Nam Thái Bình Dương hơn 6.000 năm trước. Motive Polynesia thay vì xác định những cuộc di cư hiện thời từ Trung Quốc, lại đặt tổ tiên của người Polynesia và những người dân đảo Thái Bình Dương khác vào mép thềm lục địa Sunda bị chìm mất vào cuối kỷ Băng hà. Những luận cứ như thế còn tiếp tục trong các dấu hiệu di truyền học mẫu hệ từ Đông Nam Á được tìm thấy ở Nam Ấn. Những điều này chứng tỏ sự đa dạng của địa phương, từ đó cho thấy sự có mặt lâu đời của những người dân di cư ở vùng Đông Nam Á. Một số những dấu hiệu di truyền độc đáo khác của kiểu gien toàn cầu đã chỉ ra dòng chảy từ Đông sang Tây, xuyên qua Ấn Độ vào Lưỡng Hà.
Những kiểu dấu hiệu như thế đã tiết lộ một dòng di truyền gien chảy trực tiếp từ phương Nam đến Australia kể từ cuối kỷ Băng hà. Những dấu hiệu này còn hướng về phương Băùc vào điểm hội tụ di truyền của những vùng đồi phía Đông Himalaya. Những điều này ủng hộ ý kiến cho rằng dân tộc đa ngôn ngữ này là những người lánh nạn từ phía nam lên thượng nguồn hơn là tổ tiên của người Tây Tạng. Do đó, bối cảnh di truyền là một sự phân tán gien từ xa xưa, khởi đi từ vùng Đông Nam Á khi mực nước biển dâng cao.
Vài câu chuyện có thể xác định niên đại
Việc đã từng có sự trao đổi qua lại giữa phương Đông và phương Tây về ý tưởng, gien, ngôn ngữ, đồ vật và tập quán văn hóa không còn là nghi vấn nữa. Vấn đề còn lại đối với tất cả những dấu chỉ này là niên đại chính xác của sự khuếch tán đầu tiên. Đáng ngạc nhiên là hệ thống dấu chỉ vốn đã tạo ra mối liên kết mạnh mẽ nhất từ Đông sang Tây cũng chính là hệ thống có niên đại chính xác và sớm nhất. Dĩ nhiên, hệ thống dấu chỉ này là tín ngưỡng và văn hóa dân gian truyền thống của chúng ta và là đề tài chủ yếu của nửa cuốn sách này.
Có hai phương diện cần phải phân biệt rõ trong cách dùng thuật ngữ văn hóa dân gian của tôi: dùng nó như một dấu chỉ văn hóa, và vai trò của nó như là lịch sử. Điều quan trọng nhất đối với tôi ở đây là dấu chỉ văn hóa. Nếu đặt sang một bên tất cả những câu hỏi về việc tại sao văn hoá dân gian được tạo ra, thì ta lại đối mặt với vấn đề những sự tương đồng không thể chối cãi của những truyền thống rất xa cách nhau về địa lý và chủng tộc. Do không thừa nhận sự khuếch tán là lý do cho những mối liên kết này, các nhà văn hoá dân gian của thế kỷ 20 đã phải đề xuất ra hai nguyên nhân duy nhất khác khả dĩ cho sự tương đồng đó, ấy là sự ngẫu nhiên và những hoạt động bên trong tâm trí con người. Tuy rằng sự ngẫu nhiên có thể vận hành theo các môtíp rõ ràng, đơn lẻ, chẳng hạn như tục thờ phụng Mặt Trời, tôi đã trình bày rằng, về mặt thống kê, rất khó có khả năng chuyện các kiểu truyện phức hợp - có từ 3 đến 10 motive riêng biệt - xảy ra tới hơn một lần. Thế mà đây là chính điều hẳn đã xảy ra đối với sự phân bố các huyền thoại trên một đường chéo vạch ngang qua đại lục Âu Á - với người Polynesia ở đầu này và người Phần lan ở đầu kia -, tất cả đã xảy ra độc lập với nhau. Việc các thần thoại cốt lõi đã được bảo tồn cẩn trọng bởi các nền văn minh Lưỡng Hà, Trung Đông và Ai Cập cũng có thể không phải là trùng hợp ngẫu nhiên. Tất cả những câu chuyện chính trong 10 chương đầu của sách Sáng thế ký được tìm thấy trong dải văn hóa này và tất cả xuất hiện ở miền Viễn Đông: Sự sáng tạo ra nước, sự phân chia trời đất, sự sáng tạo ra người đàn ông từ đất đỏ, Eva từ xương sườn của anh ta, Cain và Abel, và dĩ nhiên còn có nạn hồng thủy. Ngoại trừ hồng thủy thì sự tương đối hiếm hoi bằng chứng cho những kiểu truyện phức hợp này ở châu Mỹ và châu Phi không chỉ hỗ trợ cho lý thuyết về sự phân bố, mà còn là một luận điểm chống lại giả thiết về tính ngẫu nhiên và “hoạt động bên trong tâm trí con người” đối với những sự tương đồng giữa các huyền thoại này.
Trong khi phương pháp của Frazer trong văn hóa dân gian đang bị loại bỏ thì cách tiếp cận tâm lý học giải thích những điểm tương đồng của các câu chuyện như thế bằng những ý tưởng của Freud và Jung, đã trở nên phổ biến và đáng kể. Thời gian đã không chứng minh được triển vọng đối với những ý kiến sau. Những lý thuyết ấy thực chất là không thể chứng minh, vô bổ hoặc không thích hợp và không còn được xem xét một cách nghiêm túc trong văn bản này. Xin dẫn ra một thí dụ: câu chuyện về sự phân chia Trời Đất được đề cập ở gần đầu phần II thường xuyên nhắc tới sự hợp nhất giới tính cha Trời và mẹ Đất. Điều này có thể là nguồn cảm hứng cho cách diễn giải theo Freud, nhưng sự kiện hay hình ảnh tính dục đầy kịch tính này lại khác nhau rất nhiều ở mỗi câu chuyện. Điều này chỉ ra rằng mặc dù môtíp phân ly đã được lưu giữ cẩn thận trong những dị bản khác nhau của câu chuyện, song chúng không xảy ra một cách tự phát như là sự đáp ứng một nhu cầu sâu thẳm muốn hoạn cha mình hay bất kỳ sự tưởng tượng nào như thế. Sự tiếp cận cấu trúc luận đối với văn hóa dân gian đang nổi lên ở nửa sau thế kỷ 20 đã hoàn toàn vô dụng và trong bất cứ trường hợp nào cũng lờ đi những vấn đề về nguồn gốc của thần thoại.
Hết Phần 1.

Mời bạn bấm vào đây để xem tiếp


Vụ thảm án tôn thất nhà Lý nay ở đâu?

Vụ thảm án tôn thất nhà Lý nay ở đâu?

(Trọng Huân) 


Đầu rồng trang trí
mái cung điện thời nhà Lý
Vụ “tàn sát” tôn tộc nhà Lý sử ghi xảy ra ở Thái Đường, Hoa Lâm. Trong bộ Đại Việt sử Ký toàn thư , bộ sử đồ sộ nhất còn lại của nước ta, bản khắc in cũ nhất năm Chính Hoà(1697) ghi: “ Mùa đông năm ấy(1232), nhân người họ Lý tế lễ các vua nhà Lý ở Thái đường, Hoa Lâm,Thủ Độ ngầm đào hố sâu, làm nhà lên trên, đợi khi mọi người uống rượu say, giật máy chôn sống hết”. Các sách hiện nay khi ghi chép địa danh Thái đường, Hoa Lâm đều chú thích nơi đó thuộc huyện Đông Ngàn cũ và ghi chú nay thuộc đất Tiên Sơn, Bắc Ninh.  

Vậy vùng đất Thái Đường xưa nay là đâu? Vùng đất ấy nay chính là đất xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, TP. Hà Nội. Nếu ai có dịp từ Hà Nội, qua cầu Đuống, sang Đông Anh, quãng 500 mét, đến dốc Vân, phía bên tay trái chính là vùng đất Hoa Lâm Viên xưa.

Đọc thêm »

Cây dành dành chữa bong gân, sai khớp


Cây dành dành chữa bong gân, sai khớp
Cây dành dành

Khi bị bong gân hay sai khớp, lấy hạt dành dành giã nát, trộn với lòng trắng trứng gà, băng đắp vào chỗ đau, ngày 1 lần. Làm 3 ngày liên tục.

Cây dành dành còn có các tên chi tử, sơn chi tử, hoàng chi tử, hoàng kê tử..., là cây nhỏ cao 2 m, rễ màu vàng, lá mọc đối, mùa hạ nở hoa màu trắng, có mùi thơm, quả hình chén, thường mọc hoang và được trồng nhiều ở Việt Nam. Dân gian thường dùng hạt để làm thuốc.

Một số bài thuốc Nam thường dùng:
Đọc thêm »

Giá Trị Những Dấu Chấm Câu

Giá Trị Những Dấu Chấm Câu

Có một người chẳng may đánh mất dấu phẩy. Anh ta trở nên sợ những câu phức tạp và chỉ tìm những câu đơn giản. Đằng sau những câu đơn giản là những ý nghĩ đơn giản.
Sau đó, không may, anh ta lại làm mất dấu chấm than. Anh bắt đầu nói khe khẽ, đều đều, không ngữ điệu. Anh không cảm thán, không xuýt xoa. Không gì có thể làm anh ta sung sướng mừng rỡ hay phẫn nộ nữa cả. Đằng sau đó là sự thờ ơ đối với mọi chuyện.
Kế đó, anh ta đánh mất dấu chấm hỏi và chẳng bao giờ hỏi ai điều gì nữa. Mọi sự kiện xảy ra ở đâu, dù trong vũ trụ hay trên mặt đất hay ngay trong nhà mình mà anh ta không biết, anh ta đánh mất khả năng học hỏi. Đằng sau đó là sự thiếu quan tâm với mọi điều.
Một vài tháng sau, anh ta đánh mất dấu hai chấm. Từ đó, anh ta không liệt kê được, không còn giải thích được hành vi của mình nữa. Anh ta đổ lỗi cho tất cả trừ chính mình.
Cứ mất dần các dấu, cuối cùng, anh ta chỉ còn lại dấu ngoặc kép mà thôi. Anh ta không phát biểu được một ý kiến nào của riêng mình nữa, lúc nào cũng chỉ trích dẫn lời của người khác. Thế là anh ta hoàn toàn quên mất cách tư duy.
Cứ như vậy, anh ta đi đến dấu chấm hết.
Thiếu những dấu chấm câu trong một bài văn, có thể bạn chỉ bị điểm thấp vì bài văn của bạn mất ý nghĩa, nhưng mất những dấu chấm câu trong cuộc đời, tuy không ai chấm điểm nhưng cuộc đời bạn cũng mất ý nghĩa như vậy.
Hy vọng mọi người không bao giờ đánh mất những dấu chấm câu trong cuộc đời của mỗi người. Hãy cố gắng trân trọng những gì mà cuộc sống đã đem lại cho chúng ta.
                                                                         (Sưu tầm)

Nếu Được Sống Đến 2 Lần



Nếu Được Sống Đến 2 Lần

Ai đó hỏi rằng, nếu được sống hai lần, bạn sẽ làm gì? Riêng tôi, tôi sẽ trả lời...
Tôi sẽ chẳng bao giờ quên ngày sinh nhật của người tôi quen biết. Tôi sẽ không để tuột mất cơ hội bày tỏ trái tim mình với ai đó, cũng như tôi sẽ dành thời gian để dừng lại và biết lắng nghe.
Tôi sẽ dành thời gian cho bạn bè chỉ bởi vì người đó là bạn tôi. Tôi cũng sẽ lên kế hoạch có những kỳ nghỉ với gia đình thân yêu.
Tôi sẽ dành thời gian, để lắng nghe những cuộc phiên lưu đầy "ngộ nghĩnh" của một đứa trẻ lên năm. Tôi sẽ dành nhiều thời gian hơn cho ai đó để họ cảm thấy họ đẹp và quan trọng hơn.
Tôi sẽ nằm sóng soài trên ngọn đồi có những triền cỏ xanh mượt để lắng nghe tiếng cười khúc khích của chính mình. Tôi sẽ chia sẻ cảm xúc của tôi cho những người yêu tôi. Tôi sẽ yêu thương mỗi điều nhỏ nhặt trong một ngày, một vòng tay buổi sáng sớm, một nụ cười của người lạ, một buổi ăn tối cùng với gia đình, một nụ cười với cuộc điện thoại nhầm số...
Nếu cuộc sống được sống hai lần, tôi sẽ xác định quan điểm sống của mình để sao không phải hối tiếc và tôi sẽ để những người tôi yêu biết điều ấy... hằng ngày! Tôi sẽ không để thời gian trôi qua mà không kịp để người tôi yêu thương biết rằng họ là một phần quan trọng trong cuộc đời tôi.
Sống trọn vẹn từng khoảnh khắc là cách giúp bạn luôn nhớ rằng: không ai, không điều gì là nhỏ nhặt trong cuộc đời của bạn...
(Sưu tầm)

Thứ Năm, 13 tháng 12, 2012

CÁI LƯỠI CÂU

CÁI LƯỠI CÂU

Tuệ Thiền (Lê Bá Bôn)
(Trích trong Đường Về Minh Triết; NXB Văn Nghệ, 2007)
----****----

Hình minh họa
Bạn tôi làm ở một xí nghiệp nọ, gặp tôi anh than thở:
- Tớ chán cái xí nghiệp nổi tiếng này quá, cậu ạ. Tay nhà báo nào đó thổi phồng thành tích của nó hết cỡ. Trong khi ấy, bao nhiêu thối tha lại không đụng đến một chữ!... Càng nổi tiếng, công nhân càng khổ!
Dù ở ngành giáo dục nhưng tôi cũng không lạ gì vấn đề này. Ung nhọt đang mọc khắp cơ thể xã hội… Tôi vỗ vai bạn, khích lệ:
- Hãy đấu tranh! Có tổ chức công đoàn mà.
Bạn tôi nhếch mép nhìn tôi. Một lúc sau anh ấy nói:
Đọc thêm »